Phép nói và viết Hỏi Ngã

February 6th, 2010    Posted in Uncategorized
Phép nói và viết hỏi ngã In E-mail
06/02/2010
 

 

Views : 62

 Phân nửa người Việt Nam, từ Thanh Hóa trở ra, về phương diện hỏi, ngã, nói và viết rất đúng, còn một phân nửa, từ Nghệ Tĩnh trở vào, nói không phân biệt hai thanh này và viết rất lầm. Sự trộn lộn hai thanh này thành một sẽ là một việc làm cho tiếng Việt nghèo nàn thêm, và làm cho lắm câu thành tối nghĩa. Người có ý thức không ai dám chủ trương một việc nông nổi như vậy.

 Mà phân biệt hai thanh, khi nói và viết, đối với người đàng trong, là một một vấn đề to: vấn đề hỏi ngã.

Mấy năm nay, đã có nhiều người nghiên cứu vấn đề này và đưa ra một luật, mà chúng tôi xin gọi là luật Nguyễn Đình, để nhắc nhở người đã nêu nó ra trước nhất. Cái hay – và cũng là cái dở – của luật Nguyễn Đình là để cho người đã khá giỏi tiếng Việt dùng được mà thôi. Đối với kẻ thiếu học, thì công dụng của nó rất ít.

Lại giá trị của luật ấy chỉ ở trong phạm vi chính tả. Người đàng trong, dầu cho đã thạo rồi, cũng không sao nói đúng được.

Muốn giải quyết đến cội rễ vấn đề này, ta hãy nghĩ xem: tại sao người đàng ngoài, dầu chẳng biết luật Nguyễn Đình, vẫn nói đúng và viết đúng hỏi ngã? Ấy bởi vì từ thuở mới học nói, họ đã nghe chung quanh họ, hai thanh này phân biệt rõ ràng. Vậy phương pháp của âm học, đối với mỗi người, và áp dụng cho tất cả, sẽ thành phương pháo giải quyết được vấn đề đến triệt để.

Dầu ta có thạo thông lệ này, hay thông lệ nọ, mà ta nói vẫn sau, thì trẻ em nghe ta nói sai, sẽ nói sai, ắt là vấn đề hãy còn mãi.

Việc đánh dấu đúng, tuy là cần chỉ là gáo nước để tưới trận lửa to, làm sao mà trừ đám cháy được? Còn nếu ta nhờ các thông lệ làm phương tiện riêng để phân biệt hỏi, ngã, hầu nói đúng, thì thế hệ sau nghe ta nói đúng, sẽ nói đúng. Rồi ít lâu, ở toàn cõi Việt Nam, sẽ không còn vấn đề nàỵ Chúng tôi soạn tập sách vấn đề giải quyết vấn đề hỏi ngã. Khi ai nấy đã nói đúng và viết đúng cả rồi, vấn đề sẽ không còn, sách sẽ hết cần, hóa thành vô dụng. Nên lòng cầu nguyện là được một ngày gần đây, sách sẽ không được dùng nữa, và chỉ dành cho những kẻ khảo cứu tài liệu lịch sử xem chơi mà thôi.

LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC TIẾNG NÀO HỎI TIẾNG NÀO NGÃ

Phương Pháp Tự Nhiên

Khi ta biết cách nói rồi, muốn có thể phân biệt tiếng nào hỏi, tiếng nào ngã, thì nên theo phương pháp tự nhiên hơn hết, là học.

Phương pháp này đã đem lại những công hiệu rõ ràng. Nhiều người ngoại quốc, tuy nói tiếng Việt rất khó khăn, song đã chịu khó học cẩn thận rồi, thì nói, viết rất đúng hỏi ngã. Nhiều người đàng trong, chịu khó học, cũng nói được viết đúng như người đàng ngoài. Mà bằng chứng đích xác hơn hết là, cả một cõi Bắc Việt, ai cũng nói đúng nhờ học từ thuở bé ở nơi chung quanh mình.

Cái may của người đàng ngoài, là sự học này là một cái học thường xuyên, trong mỗi lúc nghe nói, trong mỗi lúc nói, mà người học thấy cực nhọc hay để tí công cố gắng nào. Chung quanh mình, cha, mẹ, anh, chị, bè, bạn, lối xốm, thảy là người thầy sẵn sàng dạy mình, và lại những ngưòi thầy dạy đúng phương pháp tự nhiên. Kết quả là lên năm, lên sáu tuổi, đứa bé đã học xong rồi, đến trường khỏi phải trở lại vấn đề.

Cái rủi của người đàng trong là không có trường học tự nhiên ấy. Ngay nhà trường chính quy cũng vẫn là một lớp học thiếu sót về vấn đề này. Thầy giáo nào có công, cũng chỉ dạy cho học trò đánh dấu đúng, khi viết. Chúng tôi chưa hề gặp một thầy giáo nào ở đàng trong đã dạy học trò nói thanh ngã, thanh hỏi bao giờ. Và cũng chớ nên trách họ, vì chính họ còn chưa nói được thay!

Vậy cần phải học, tuy trong những điều kiện khắt khe hơn, nhưng phải cố tìm tạo ra một hoàn cảnh gần như tự nhiên, và dõi theo một phương pháp tự nhiên. Hoàn cảnh ấy, là một nhóm người biết cố gắng nói đúng, viết đúng hỏi, ngã. Phương pháp ấy, là nên học thuộc lòng, không khác nào trẻ con mới học nói phải thuộc tiếng mới, không khác nào người ngoại quốc học nói phải học thuộc tiếng lạ.

Trong khi nói chuyện, nếu phải dừng trước một tiếng để suy nghĩ nên nói thanh nào, thì làm sao cho lời được suôn, lại còn nói chi đến việc trổ tài hùng biện? Trong khi viết, nếu phải dừng mỗi lúc để suy nghĩ nên đánh dấu nào, thì làm sao chép kịp lời của người, hay ghi cho kịp nguồn hứng của mình?

Học phải chọn sách. Học về hỏi, ngã, không có gì qua từ điển, tự điển, tự vi. Những người có tiếng là viết đúng chính tả, như Phan Khôi, Phan Văn Hùm, thường thú nhận rằng không có dụng cụ nào hơn là tự điển để tra cứu, mỗi lần trí nhớ của họ hơi lờ mờ. Ngày nay, những từ điển, lấy tiếng Việt làm nền để cắt nghĩa và điển chế tiếng Việt, thật là khó tìm. Một vài quyển hãy còn lưu hành, nhưng lại rất cẩu thả về vấn đề chính tả.

Học trong tự điển là một việc rất mau chán. Vì vậy mà cần có một lối học mau lẹ, lại có nhiều kết quả. Lối học thực tiễn này dựa vào những nhận xét sau đây:

Trong tiếng Việt, tiếng thanh hỏi nhiều hơn tiếng thanh ngã. Vậy ta học trước hết những tiếng thanh ngã, ắt ít tốn công hơn. Còn tất cả những tiếng nào thừa lại, là to cho thanh hỏi.

Trí nhớ muốn được chắc chắn, cần nên vận dụng tất cả các cơ quan, tai nghe, mắt nhìn, tay viết. Phần lỗ tai đã được chú trọng rồi. Còn nên cho quen mắt, bằng cách đọc kỹ và nhiều những sách đánh dấu đúng, những bản viết tay đánh dấu đúng. Và nhất là tập đánh dấu cho quen mắt, quen tay như người đàng ngoài, dấu hỏi rõ ràng vẽ hình kéo xuống, sau khi đã vòng tròn, dấu ngã rõ ràng kéo lên, sau khi đã vòng tròn. Tay, mắt, tai hiệp nhau làm cho phần máy móc của trí nhớ được vận dụng đầy đủ, thì sự nhớ càng chắc.

Rồi cũng phải làm cho phần thông minh của trí nhớ làm việc, để tập luyện và để củng cố những điều đã học được với một cách máy móc. Vậy cần phải suy nghĩ, để tìm cái lý của sự việc (nghĩa là cái lẽ vì sao phải đánh dấu ngã) và những liên quan của các việc. Đây là một công cuộc đòi lắm hiểu biết. Vậy xin xét ở chương sau.

Phương pháp bác học

Phương pháp bác học này đòi hỏi nhiều hiểu biết về ngữ âm học, để áp dụng những định luật sự biến di của âm thanh, và về từ nguyên học, để tìm tòi gốc rễ của mỗi tiếng.

Ngữ âm học và từ nguyên học là hai khoa rất khó. Ở Âu Mỹ, vào trường đại học, người ta mới khởi sự cho học các khoa này, còn từ bực trung học trở xuống, chỉ nói cho biết thoáng qua thôi. Mà khi đã học xong rồi, phải có óc tìm tòi, khiến suy diễn mới tự mình khảo cứu thêm được. Vì vậy mà phương pháp bác học được nhắc đến sau đây không phải để cho ai cũng dùng được.

Đối với tiếng Việt, hai định luật sau đây của ngữ âm học giúp cho chúng ta rọi nhiều tia sáng và vấn đề hỏi ngã:

Những âm thanh thường có xu hướng có gần tính chất với những âm thanh đi cặp với mình. Ấy là 

luật thuận thinh âm

Những âm thanh thường biến chuyển ra những âm, thanh có gần tính chất với mình.

Ở đây không phải là để khảo cứu về ngữ âm học, nên xin phép không dừng lâu nơi hai luật này, mà chỉ áp dụng chúng nó vào vấn đề hỏi ngã mà thôi.

Do theo sự khảo cứu ở phần thứ nhất, ta thấy rằng thanh hỏi ở vào bực nhất, ta thấy rằng thanh hỏi ở vào bực bổng. Vậy luật thuận thinh âm mách cho ta biết rằng nó thường  đi cặp với những thanh hỏi, ngang, và sắc

 là những thanh gần tính chất với nó. Ví dụ như:

Hỏi đi cặp với hỏi: bẩn thỉu, mỏng mảnh
Hỏi đi cặp với ngang: thẩn thơ, mơn mởn
Hỏi đi cặp với sắc: khỏe khoắn, lấp lửng

Còn thanh ngã ở vào bực trầm, gần với những thanh huyền, nặng. Vậy luật thuận thinh âm mách cho ta biết rằng nó thường đi cặp với những thanh ngã, huyền, nặng là những thanh có gần tính chất với nó. Ví dụ như:

Ngã đi cặp với ngã: bãi hãi, lẽo đẽo
Ngã đi cặp với huyền: bão bùng, hiền ngõ
Ngã đi cặp với nặng: nhão nhẹt, chậm rãi

Nếu đảo ngược tính cách trên, chúng ta có thể nêu được cái thông lệ thực tiễn để tìm tiếng nào có thanh ngã (luật Nguyễn Đình)

Tiếng có thanh ngã là những tiếng đi cặp với tiếng thanh ngã, nặng hay huyền

Tuy nhiên, thông lệ này có rất nhiều ngoại lệ. Độc giả sẽ thấy rằng số ấy không phải là ít, và phương pháp bác học, tuy đòi hỏi rất nhiều hiểu biết và suy nghĩ, vẫn không bằng phương pháp tự nhiên.

Khoa từ nguyên học, áp dụng vào tiếng Việt, cho ta biết rằng những tiếng họ hàng, hoặc biến chuyển ra, thường có những thanh gần với thanh cội rễ.

Như ba thanh ngang, sắc, hỏi biến chuyển qua lại với nhau. Ví dụ: chưạ..chửa; miếng…miểng; cảnh…kiếng; chẳng…chăng; thể…thế

Còn ba thanh huyền, nặng, ngã, biến chuyển qua lại với nhaụ Ví dụ: rồị..rỗi, chậm…chẫm; cữụ..cậu; lỡ … lợ; cũng….cùng.

Nếu đảo ngược tính cách này, chúng ta có thể nêu được cái thông lệ thực tiễn để tìm tiếng nào có thanh ngã

Tiếng có thanh ngã là những tiếng do tiếng thanh ngã, nặng, huyền biến chuyển ra

Ngoài ra còn những tiếng Hán Việt mà cách phát thanh theo những định luật phiền tạp, và sự áp dụng các định luật ấy chưa chắc gì đơn giản hơn là theo phương pháp tự nhiên là học ngay cho thuộc lòng. Lại các định luật này có rất nhiều ngoại lệ, mà nhớ cho được và cho đủ, cũng cần phải học thuộc lòng. Vậy thì, làm thế nào, vẫn khó tìm một phương pháp, duy lý dễ dàng, cho vừa tầm thực dụng của bình dân.

Tốt hơn là dùng phương pháp tự nhiên, đã dễ dàng, còn đem lại nhiều thành tích tốt đẹp.

Tuy vậy, những định luật kể trên vẫn có giá trị là những kim chỉ nam cho những nhà khảo cứu, để tìm tòi chính tả và điển chế tiếng Việt. Giá trị của nó là giá trị của một phương pháp bác học, và chỉ có giá trị ấy trong địa hạt của khảo cứu. Cố đem ra ngoài địa hạt ấy và biên thành những thông lệ thực tiễn, chưa ắt là hạp với kinh nghiệm của khoa sư phạm.

Trái lại, nếu ta đã dùng phương pháp tự nhiên mà học thuộc lòng rồi, lại áp dụng thêm phương pháp bác học để khảo chính và củng cố trong trí nhớ những điều đã học được, thì là một việc thêm hay.

Đặc sắc của khoa học không phải là dừng nơi một phát kiến nào, mà ở nơi sự tìm tòi và phát kiếm thêm mãi. Vấn đề hỏi ngã không phải ở trọn trong luật Nguyễn Đình và luật tứ thinh.

Đứng vào một sở cậy khác, rọi một nhấn quang khác, chắc chắn sẽ tìm thấy việc khác có thể giúp cho ta hiểu rõ thêm vấn đề.

Như có người (Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Tuân, Thế Lữ…và chúng tôi) nghĩ rằng tiếng Việt nam là một tiếng “nhạc ý” (nghĩa là dùng âm thanh cao, thấp, dài, ngắn mà diễn ý), khác hơn tiếng Tàu là một tiếng “hội ý” (nghĩa là dùng nét vẽ mà tượng ý). Thế thì, hỏi hay ngã, tất phải có quan hệ với ý của tiếng dùng. Nhắc đến giả thuyết này, chúng tôi chỉ có ý mách rằng có thể khảo cứu và suy luận thêm về vấn đề hỏi ngã, chớ chưa định ý lập một cái luật nào mới.

Độc giả nên nghiên cứu bằng thuật dùng thẻ (fiche). Thẻ ấy là những mảnh giấy rời nhỏ. Trên mỗi thẻ, ta nêu to một tiếng dấu ngã, kế đến những điều gì mà ta cần chép để nhớ (nghĩa tiếng, gốc tiếng, luật về ngữ âm học) và những nhận xét hay giả thuyết riêng của ta. Khi có đủ bộ rồi, ta chịu khó quy nạp những nhận xét, biết đâu ta chẳng tìm được cái gì hay đẹp về vấn đề?

Hồ Tường (Paris, đầu mùa hè 1950)http://vietsciences.free.fr/

No Comments

Thảm Sát Mậu Thân và Luơng tâm Dân Tộc chúng ta

February 5th, 2010    Posted in Uncategorized

Tác Giả Đoàn Thanh Liêm

Đoàn Thanh Liêm

 

View all articles by Đoàn Thanh Liêm

Sắp sửa đến Tết Canh Dần 2010, bà con ta người gốc Huế lại phải chuẩn bị đốt nén nhang trước bàn thờ người trong thân tộc của mình mà đã bị thảm sát oan uổng dịp Tết Mậu Thân năm 1968. Các nạn nhân bị chết đau đớn, tức tưởi đó là cha mẹ, ông bà, cô dì, chú bác, cậu mợ cũng như anh chị em ruột thịt, cùng bà con khác trong dòng họ nội ngoại của mình. Người viết bài này gốc gác ở đất Bắc, nên không có một bà con thân tộc nào, cũng như bạn hữu thân thiết nào mà nằm trong danh sách các nạn nhân đó. Dầu vậy, tôi cũng xin được chia sẻ với nỗi đau đớn khôn nguôi của các gia đình nạn nhân trong dịp tưởng nhớ vào năm thứ 42 này (1968 – 2010).

Và bài viết này được viết ra, không hề để bày tỏ sự giận dữ hận thù nào của bản thân mình đối với các người đã gây ra bao nhiêu cái chết tức tưởi đau đớn nói trên. Mặc dù là một luật gia, tôi cũng không muốn đặt vấn đề thảm sát này trong góc độ pháp lý, cụ thể như vận động tổ chức một phiên tòa xét xử tội ác này theo luật hình sự quốc tế, như đã có một vài người đã gợi ý từ it lâu nay, với lý do rằng : đây là một thứ tội chống nhân loại, tôi diệt chủng (crime against humanity, genocide), nên không thể để cho chìm xuồng với nguyên tắc “thời hiệu  -  tố quyền bị triệt tiêu” (statute of limitations). Bởi lý do thực tế là việc vận động như vậy sẽ rất khó có kết quả. Ngay cái phiên tòa để xử tội “diệt chủng của Khmer Đỏ ở Cambodia”, dù đã khởi sự từ mấy năm nay, thì cũng chưa thấy tiến triển ra làm sao cả.

Vậy thì đúng như tiêu đề của bài viết, đây là một  “vấn đề Lương tâm” đặt ra cho toàn thể dân tộc Việt Nam chúng ta. Nói cho rõ hơn, thì là cần phải tiến hành một cuộc “cật vấn lương tâm” (examen de conscience như người Pháp thường nói), để suy xét, tra vấn tận đáy lòng của mỗi người về cái “tội ác tày trời” trong vụ thảm sát đến trên 6000 người dân vô tội hồi Tết Mậu Thân năm 1968 ở Huế đó.

A/ Tóm lược nội vụ

Đã có quá nhiều sách báo viết về chuyện này, từ phiá các nhà báo, nhà nghiên cứu, cũng như những chứng từ cuả người trong gia đình các nạn nhân, cuả cơ quan nhà nước cuả Việt Nam Cộng hoà, cuả người Mỹ thuộc đơn vị quân sự hay dân sự. Tất cả đều “chúng khẩu đồng từ”, đưa ra các số liệu chính xác về sự tàn bạo trong các vụ “giết người hàng loạt” do quân đội và cán bộ cộng sản gây ra trong thời gian 26 ngày chiếm đóng thành phố Huế vào dịp Tết đó. Xin chỉ ghi lại thật ngắn gọn như sau:

1 – Thành phần đội quân cộng sản tiến đánh và chiếm giữ thành phố Huế gồm khoảng trên dưới 10,000 người với quân tại địa phương và bộ đội chính quy từ ngoài Bắc vào. Số cán bộ nòng cốt nằm vùng sẵn tại Huế được ước lượng vào khoảng 200 người.

2 -  Việc thanh toán các nạn nhân được tiến hành giai đoạn đầu ngay sau khi phe cộng sản chiếm giữ được thành phố, họ đã ra lệnh xử tử hình các nhân viên của Việt Nam Cộng hòa theo danh sách “Sổ đen” đã lập sẵn. Có chừng vài ba trăm người bị thanh toán trong đợt này, ngay tại khu vực xung quanh nội thành của Huế.

3 -  Trong giai đoạn sau cùng, sau khi quân cộng sản phải rút lui khỏi thành phố, thì có đến nhiều ngàn người “ bị giết tập thể” và được chôn vùi tại nhiều nơi hẻo lánh cách xa thành phố Huế đến 20-30 cây số. Xác các nạn nhân chỉ được tìm thấy sau nhiều tháng vào cuối năm 1968 hay năm 1969.

4 -  Tổng số người bị giết và mất tích là trên 6,000. Mà cho đến năm 1975, thì thân nhân mới chỉ nhận diện được cỡ 3,000 tử thi. Dĩ nhiên là có một số người bị thiệt mạng vì lý do chiến trận do bị bom đạn lạc. Nhưng đa số là do bị cán bộ cộng sản ra tay giết chết rất tàn ác dã man, cốt ý nhằm “để phi tang”, vì các cán bộ này đã bị lộ diện trong thời gian công khai ra mặt nắm giữ quyền sinh sát tại Huế. 

B / Vấn đề quy trách nhiệm về cuộc thảm sát này.

Theo nguyên tắc “ tội quy vu trưởng”, thì giới lãnh đạo chóp bu của đảng cộng sản ở Hanoi phải chịu trách nhiệm chính yếu về cuộc thảm sát này, bởi lý do là chính họ đã ra lệnh và chỉ huy toàn bộ chiến dịch “Tổng Tấn công và Tổng Nổi dậy” này. Người đứng đầu hồi đó là Tổng Bí thư Lê Duẫn, rồi phải kể đến Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam Phạm Hùng v.v…

Tiếp theo là trách nhiệm của Ban Chỉ huy chiến dịch tại địa phương, những người này đều do Hanoi trực tiếp sắp đặt, cắt cử. Hai cán bộ cao cấp phụ trách chỉ huy mặt trận ở Huế là Lê Chưởng và Lê Tư Minh.

Sau cùng là trách nhiệm của những cán bộ cộng sản “nằm vùng” sẵn tại địa phương. Họ có chừng vài trăm người, mà đã trực tiếp ra tay sát hại đồng bào mà cũng là đồng hương xứ Huế của chính họ. Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân, Tống Hoàng Nguyên, Nguyễn Đình Bảy Khiêm v.v… là những người nòng cốt đi săn lùng những nạn nhân để thanh toán.
 
Vụ việc thảm sát này quá trầm trọng, chắc chắn là giới lãnh đạo ở thượng tầng của đảng cộng sản  ở Hanoi đã phải bàn bạc, thảo luận và đưa ra kết luận về nội vụ. Nhưng vì lý do chiến tranh vẫn tiếp diễn, cho nên họ không hề chính thức công bố về chuyện này. Mà cả cho đến nay, sau trên 40 năm, chưa bao giờ giới lãnh đạo cộng sản chịu lên tiếng “nhận trách nhiệm về vụ thảm sát này”. Do đó, ta cũng đừng trông mong rằng sẽ có người trong hàng ngũ lãnh đạo mà vì bị lương tâm dày vò, thôi thúc, nên sẽ tự nguyện đúng ra tiết lộ “bí mật của đảng cộng sản” liên hệ đến vụ thảm sát này.

Dầu vậy, đối với mấy trăm ngàn người dân tại Huế nói riêng, cũng như mấy chục triệu đồng bào ở Miền Nam Việt Nam nói chung, thì cái tội ác tày trời này sẽ không bao giờ mà đảng cộng sản lại có thể xóa bỏ hết dấu tích đi được. Bởi vì rằng:
 “Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ “ đấy thôi!

Chúng ta đã có quá đày đủ chứng từ cuả các thân nhân có người nhà bị thảm sát, và cuả một số người may mắn thoát chết vì trốn thoát được trước khi bị thủ tiêu. Nhưng chúng ta chưa có được bao nhiêu chứng từ cuả những người đã tham dự, đã nhúng tay vào cuộc thảm sát này. Trong số trên 10,000 bộ đội, cán bộ, nhất là cán bộ điạ phương, thì ít nhất phải có đến 70% tức là cỡ 7,000 người lúc đó đang ở tuổi trên dưới 20. Đến nay vào năm 2010, thì số người này đã vào lưá tuổi 60 và đã giải ngũ hay về hưu cả rồi. Như vậy, số người mà còn sống sót của đội ngũ chiếm đóng Huế năm 1968 đó, thì hiện nay phải có cả đến hàng ngàn người. Mong rằng ta sẽ thâu thập thêm được chứng từ cuả chính các người “đã trực tiếp hay gián tiếp dính tay vào máu” đó, để có thêm được chứng cứ bổ túc vào hồ sơ cuả vụ thảm sát ghê rợn này.

C /  Vấn đề Lương tâm cuả toàn thể Dân tộc chúng ta.

Như đã viết ở trên, tác giả bài viết này không nhằm đặt vấn đề trên phương diện pháp lý. Mà đây là vấn đề của lương tâm, của đạo lý làm người. Dân tộc Việt nam chúng ta vốn từ xa xưa đã có một truyền thống nhân đạo và nhân ái rất tốt đẹp vững chắc, con người luôn sống thuận thảo, hòa nhã với nhau trong các làng mạc, thôn ấp theo khuôn khổ đạo đức từ bi của tôn giáo, thông qua các vị tu sĩ, các bậc tôn trưởng, các vị sĩ phu quân tử trong mỗi một cộng đồng điạ phương. Ấy thế mà chỉ vì do cái “chủ trương cách mạng bạo lực sắt máu cuả đảng cộng sản du nhập từ nước ngoài vào”, cho nên đã xảy ra cuộc “anh em coi nhau như kẻ thù, để mà ra tay tàn sát không một chút xót thương đối với mấy ngàn thường dân vô tội” ở một thành phố nổi tiếng là một cố đô đã bao nhiêu năm trước. Đó quả thật là một điều khủng khiếp quá sức, đến độ lương tâm cuả bất kỳ người Việt nam nào mà lại không động lòng xót thương và ray rứt thắc mắc, dày vò trước sự thể “anh em một nhà mà thù hận, chém giết nhau quá man rợ” đến thế!

Và cho đến nay, đã trên 40 năm sau khi sự việc thảm sát xảy ra, giới lãnh đạo cộng sản vẫn một mực ngoan cố, vẫn tìm mọi cách để giấu nhẹm và né tránh cái trách nhiệm cuả mình trong vụ phát động cuộc chém giết này. Thế thì toàn thể dân tộc chúng ta phải cùng hợp lại với nhau để mà “đồng lòng lên tiếng đòi hỏi đảng cộng sản phải công khai đứng ra nhìn nhận cái lỗi lầm, cái sai trái cuả mình trong cuộc thảm sát này”. Đồng thời họ cũng phải có “lời xin lỗi chân thành đối với vong linh cuả những nạn nhân đã bị họ ra tay tàn sát vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968 oan nghiệt” đó.

Nhân dân Việt nam chúng ta kiên quyết đòi hỏi giới lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay ở Hanoi phải “làm điều tối thiểu là phải nhận cái tội lỗi tày trời đó”. Nhất quyết chúng ta không thể dung tha cho cái thái độ ngạo mạn, ngang ngược như thế này mãi mãi được nưã. Và chúng ta cũng tiếp tục lên án cái đảng và nhà nước cộng sản hiện vẫn đang tiếp tục sử dụng thủ đoạn côn đồ để hành hung các tu sĩ và tín đồ các tôn giáo tại các điạ phương, cụ thể như ở Đồng Chiêm, ở Cồn Dầu, ở Lâm Đồng, ở Cao nguyên Trung phần v.v…

Trong niềm tưởng nhớ và xót thương vô hạn đối với bao nhiêu nạn nhân vô tôi đã bị cán bộ cộng sản tàn sát cực kỳ dã man hồi Tết Mậu Thân năm 1968 tại cố đô Huế, chúng ta cùng hiệp nhau cất lên “tiếng nói lương tâm cuả tập thể Dân tộc Việt Nam mình” để đòi hỏi đảng cộng sản phải hành xử thích đáng hầu chuộc lại được “cái tôị lỗi Trời không dung, Đất không tha này”.

D/ Kinh nghiệm cuả “ Uỷ Ban Sự Thật và Hoà Giải” ở Nam Phi. (The Truth and Reconciliation Commission in South Africa)

Sau khi chế độ Kỳ thị chủng tộc Apartheid chấm dứt ở Nam Phi, thì Vị Tổng Thống Nelson Mandela đã phát động một chiến dịch nhằm hàn gắn những đổ vỡ, hận thù trong xã hội do sự tàn bạo độc ác cuả giời cầm quyền da trắng đã gây ra bao nhiêu tội ác khủng khiếp đối với đa số người da đen trong nước, bằng cách thiết lập “ Uỷ Ban Sự Thật và Hoà Giải” nhằm công khai hoá những sự vi phạm về tự do và nhân phẩm, nhân quyền đối với người dân, để rồi tìm cách xoá bỏ loại trừ hết được những sự chia rẽ, hiềm khích thù hận trong nội bộ cuả đại gia đình dân tộc. Nhờ có chiến dịch này, mà Nam Phi đã tránh được các vụ đổ máu do những vụ ân oán trả thù lẫn nhau, giưã người da đen đa số hiện đang nắm giữ quyền bính và người da trắng thiểu số mà nay đã mất hết quyền hành để mà làm mưa làm gió, tác oai tác quái như thời còn chế độ Apartheid.

Uỷ Ban này cũng được thiết lập tại nhiều quốc gia khác nưã, cụ thể như ở Nam Hàn, ở Maroc, ở các nước Châu Mỹ La tinh v.v…

Thiết tưởng dân tộc Việt Nam chúng ta cũng có thể rút kinh nghiệm cuả người tại Nam Phi và tại các nước khác, để tìm cách hàn gắn lại sự đổ vỡ hận thù đã do người cộng sản gây ra từ bao nhiêu năm nay vậy./

California, cuối năm Kỷ sửu 2010

© Đàn Chim Việt Online

No Comments

Hãy Ngồi Với Nhau

January 24th, 2010    Posted in Uncategorized
Hãy ngồi với nhau
Ngày: 30-07-2007
Đề tài: Chính trị – Xã hội Việt Nam

Phan Hội Yên

Koln. Từ thành phố mưa phùn tháng bảy của nước Đức thống nhất, trong nỗi nhớ nhà – Tôi lại được đọc bài viết của Tiêu Dao Bảo Cự, bài viết trang trải cả tấm lòng của một người yêu nước – Sinh bất phùng thời – hay cái thời đã qua và anh đã vô tình đẩy nhanh thêm một bước. Một bước có khi đi hết cả đời người không gượng lại được. Bởi thế, dù rất tâm phục, bài viết của anh vẩn như một điều gì thôi thúc lên tiếng.

Nước Đức thống nhất, lúc đó tôi đang còn ở Việt Nam – Trong một mẩu đối thoại nhỏ với người hàng xóm, cán bộ ngoài Bắc vào, ông ta nói trước… “Cộng Hòa Dân Chủ Đức coi như xong rồi anh ạ, không biết ở mình ra sao”… Tôi nói.. “Có khi như vậy lại hay” – Mẩu đối thoại bổng vụt cao… “ Đâu có được, mất Đảng còn gì?”… và tôi chợt hiểu để không nên nói thêm điều gì.

Lý tưởng của người Cộng sản là những điều hoang tưởng được nhồi nhét có hệ thống, trong đó, Tổ Quốc, Đồng bào, giang sơn gấm vóc, chỉ là phương tiện nhất thời mà họ cần nắm lấy để tiến lên Thế giới Đại Đồng. Tôi không ngạc nhiên khi người cán bộ lối xóm đã đặt sự tồn vong của Tổ Quốc vào hàng thứ yếu – Sau sinh mệnh của Đảng Cộng Sản.

“Thiên đường mù” đã trở thành ảo vọng, họ còn biết rõ hơn dân đen chúng tôi về điều đó khi đặt chân vào ngưỡng của “Kinh tế thị trường” và bất chiến tự nhiên thành, họ đã tìm được một thiên đường khác, một thiên đường hiện thực, cụ thể, dễ dàng hơn con đường lót bằng xương máu đồng loại. Để bảo vệ và thụ hưởng, oái oăm thay, Chủ Nghĩa Xã Hội lại tiếp tục được nhân danh.

Không một luận cứ nào có thể thuyết phục được kẻ thống trị khước từ những gì họ đang có, để ngồi lại với anh em, đồng bào cùng nói lời phải trái. Trừ khi, đảng phải đối diện với nguy sụp đổ – Trừ phi là một bước lùi giai đoạn để duy trì sự lãnh đạo áp đặt và chờ thời. Lịch sử đã chứng minh điều đó.

Hiện tại, Đảng có thực sự trực diện với nguy cơ không?

Hiện tại, Đảng có nhu cầu Hòa hợp Hòa giải hay không?

Theo tin tức của đài BBC, “Ngày 9 tháng 7 tàu của hải quân Trung Quốc đã nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, cách TP Hồ chí Minh 350Km… Một ngư dân thiệt mạng, một số người khác bị thương”… “Ngày 27 tháng 7 năm 2007, ông Lê Dũng, phát ngôn viên bộ ngoại giao Việt Nam cho biết, Hoàng Sa thời gian qua, một số tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam đã bị một số nước bắt giữ”… báo chí Việt Nam đã không đưa tin về những sự kiện trên…

Cũng ngày 27 tháng 7 đài VOA còn cho biết thêm theo tin của hãng Kyodo Nhật Bản, 4 chiếc tàu đánh cá của Việt Nam đã bị chiến hạm của Indonesia nhắm bắn khi đang hoạt động quanh đảo Natuna. Hai ngư dân thiệt mạng, một người bị thương.

Hãng thông tấn Đức DPA cho biết, phát ngôn viên của Việt Nam đã tìm cách hạ giảm tầm quan trọng của vụ nầy…

Đứng trước một Biển Đông bừng bừng dậy sóng, nguy cơ đối kháng với kẻ thù truyền kiếp ngày càng đến gần – “ Răng đang ngâu nghiến phần môi phên giậu của Thiên triều”… và cảm nhận rằng thịt của môi đã mềm hơn, để nhai hơn hai mươi tám năm trước.

Bước vào những năm đầu thế kỷ 21 Trung Quốc không cần giấu giếm tham vọng lãnh thổ trước một chính phủ Việt Nam càng cay nghiệt với người dân tay không vũ khí, càng nhu nhược với sức mạnh quân sụ nước ngoài. Thời cơ cho Trung Quốc và nguy cơ cho Việt Nam đã ló dạng từ nam 1974 khi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đơn độc thù trong giặc ngoài đành mất Hoàng Sa với tràng vỗ tay reo mừng của Hà Nội.

Trong tình hình hiện tại chắc chán không thể có một cuộc chiến tranh xâm lược tổng lực – Nhưng ai dám bảo đảm rằng con tằm tham lam ăn từ Hoàng Sa – một phần Trường Sa. Nuốt sống Ải nam Quan – Thác Bản Giốc – Một phần Vịnh Bắc Bộ lại dừng chân trước thềm lục địa Việt Nam đen quánh mỏ dầu?

Việt Nam! Bốn ngàn năm dựng nước “có lúc thịnh lúc suy nhưng hào kiệt thời nào cũng có” – Vâng có lúc thịnh lúc suy, nhưng không có lúc nào suy nhược bằng chính thời điểm nầy khi chính các nước láng giềng như Indonesia, Thái Lan cũng ức hiếp được. Chính phủ Việt Nam biết cương quyết đòi hỏi Indonesia đập bỏ tấm bia tưởng niệm của người Việt Nam thảm tử, Chính phủ Việt Nam kiên quyết trấn áp dân oan khiếu kiện, và cũng Quân đội và Chính phủ Việt Nam biết run sợ trước những chiến hạm Indonesia và Trung quốc tàn sát ngư dân của mình.

Hòa bình đã 32 năm, giang sơn gom về một mối, tại sao không huy động được sức dân như một Việt Nam thời thống nhất Minh Mạng vua tôi một lòng… “Xiêm phải sợ, Tàu phải nể, Miên Lào phải thần phục”…

Ba mươi hai năm trước, kẻ thăng trận, khi vào thành không thèm “treo bảng chiêu an – vỗ về bá tánh”… ba mươi hai năm sau, trước địch họa, ai dám tin bản chiêu an muộn màng không xoang xoảng gươm đao?

Lời kêu gọi hãy ngồi lại với nhau của Tiêu Dao Bảo Cự, vô tình xuất hiện thật đúng lúc. Đối tượng mà bài viết nhắm tới, chắc chắn không phải là những người nằm trong hệ thống thống trị. Họ chưa bao giờ có ý định đối thoại hoặc hòa giải với bất cứ một ai “yêu nước mà không yêu chủ nghĩa xã hội”. và ngay cả những người đã yêu chủ nghĩa xã hội, nhưng bước chân không hòa nhịp chia chác với kẻ thống trị. Thế nên, những người có thể đọc và chia sẻ với tác giả, chỉ còn lại một phía, một phía mà trước kia tác giả đã góp phần đạp đổ.

Thành phần thứ ba
Nguồn: DCVOnline


Hãy ngồi lại với nhau và nói lời tạ lỗi, vâng hãy tin và ngồi lại với nhau hỡi tất cả những người Việt Nam yêu Tổ quốc – “Lời yêu thương dễ nói hơn lời thù hận” đấy chứ, bởi vì những người ngã ngựa chưa hề được giáo dục lòng căm thù ngay cả khi chiến trường còn vang tiếng súng hà cớ gì phải nói lời thù hận nếu người chiến thắng biết đưa bàn tay không giấu giếm gươm đao về phía trước.

Cái gọi là “Thành phần thứ ba” có dám rửa tay như quan trấn thủ Phi-La-Tô trước cái chết của Chúa Giêsu – “Ta vô can trong máu của người nầy” – Thành phần thứ ba có vô can không? trong cái chết của bao nhiêu người Miền Nam sau năm 1975? (Nếu không tính trước đó vì sẽ bị chê là cũ rích).

Tôi tôn trọng quan điểm và tấm lòng của họ đối với vận mệnh đất nước, nhưng thật khó mà quên đi những đau đớn mà thành phần thứ ba góp phần áp đặt lên dân tộc tôi. Nếu nói lời tạ lỗi, có khi nào “Thành phần thứ ba” chịu thú tội trước quốc dân về một phần trách nhiệm trên thảm họa của dân tộc?

Luôn tự hào là thành phần trí thức,… “Trọn đời dấn thân một cách trong sáng nhất cho niềm tin và lý tưởng của mình” nhưng không thể vì thế mà đi theo vết xe của thành phần kia – Độc quyền yêu nước và không thề phạm sai lầm.

Hãy thắp một nén nhang!

Thành phần thứ ba ơi, Nghĩa trang quân đội Biên Hòa không xa quý vị, xin hãy nhẹ nhàng một vòng hoa thương tiếc, hãy thương tiếc thôi, không cần thiết phải tri ân, hãy thương tiếc thôi, những người con chung của Tổ Quốc đã nằm xuống, để con đường mà quý vị từng đi qua về phía bưng biền bớt chông mìn, để giảng đường quý vị từng rao giảng ngụy tín xa tầm đạn pháo kích, để miền Nam vẩn hào phóng bổng lộc cho quý vị hàng ngày dùng đủ và yêu lý tưởng trong sáng của quý vị.

Nếu vòng hoa thương tiếc đó, không lạc qua bên kia xa lộ, nơi có bức tượng “hoành tráng” của Nghĩa trang Liệt sĩ, nơi đã dư thừa lời tri ân của quý vị. Hoặc phải dừng lại bên đầu cầu Phan Thanh Giản như một Đại trai đàn giải oan đã phải dừng lại. Nhịp yêu thương dù có muộn màng, có khi lại là đóm lửa soi đường trong đêm tối để toàn dân hy vọng.

Hãy đốt nén nhang của quý vị, còn hơn là ngồi ca cẩm… “Không có người lính nào của bên nầy hay bên kia nói lời tạ lỗi hay thắp một nén nhang cho những người anh em đồng bào mình đã bắn giết trong cuộc chiến”…

Đó là bước đầu tiên, dân đen chúng tôi xin đề nghị.

Bước thứ hai, cũng xin mời thành phần thứ ba, những người yêu nước với tấm lòng trong sáng nhất, những người mà trong quá khứ, mục tiêu của họ rất gần với mục tiêu của Hà Nội, và đã đồng thuận với nhau rất dễ dàng nhiều lần, về nhiều vấn đề. Xin mời những đồng minh một thời ngồi lại với nhau. Cuộc nói chuyện giữa thành phần thứ ba và kẻ chiến thắng chắc chắn sẽ tâm đắc, dễ dàng hơn, và đó là đại phúc của dân tộc. (Không có ngoặc kép trong lời đề nghị nầy, kể cả trích dẫn).

Đây là lúc mà Thành phần thứ ba phải xác lập vị trí của mình, xác lập trách nhiệm của mình trong cuộc hòa giải dân tộc, nếu quý vị không phải là cơ quan ngoại vi của Đảng Cộng Sản.

Quý vị không đủ lực ư? Hãy nhân danh đám đông thầm lặng, những lá phiếu không thể kiểm chứng mà ai cũng muốn nhân danh.

Chuyện thật đơn giản và không hề có “Nan đề”.

Khi nào việc hòa giải của hai thành phần nầy đạt kết quả, xin quý vị hãy công bố với quốc dân đồng bào, tổ chức tổng tuyển cử tự do, có giám sát quốc tế.

Lúc đó, sá gì mười vạn quân Thanh của Tôn Sĩ Nghị hoặc cái đầu của Liễu Thăng bên ải Chi lăng.

Phúc thay! Phúc thay!

Denver, July 2007

© DCVOnline

Phan Hội Yên

No Comments

Nhớ Tết Mậu Thân

January 23rd, 2010    Posted in Uncategorized
Nhớ Tết Mậu Thân
Ngày: 07-02-2007
Đề tài: Tư Duy Lịch Sử

Đôi điều với Ông Tiêu Dao Bảo Cự

 

Phan Hội Yên

Đôi lời thưa gởi với ông, quả thực là một điều khó khăn và tế nhị. Khó khăn khi vấn đề lớn hơn khả năng hạn hẹp của một ngưòi lính miền Nam, chỉ được đào tạo và giáo dục lòng yêu nước tinh khiết truyền thống.

Tế nhị, khi phải nói những điều “không thể không nói” sau khi đọc hai bài của ông gần đây trên Talawas: “Tỉnh thức, cảnh giác nhưng thông cảm và bao dung”(1) và “Cùng nhau hướng tới tương lai”(2). Hơn thế nữa, tôi và ông – chúng ta chưa được đứng cùng một phía để nhìn lại cuộc chiến tranh mà chúng ta cùng tham dự (Không phải phía bên nầy hay bên kia chiến tuyến). Thì làm sao có thể có cái nhìn chung về tưong lai với tất cả nhiệt tình đáng tin cậy, dù có khi ông và tôi đã cùng hát một bài Quốc ca, đã cùng hướng về một lá cờ, đọc lời hứa Trung thành với Tổ Quốc và tuân theo luật Hướng Đạo(3). Không biết khi đó, Tổ quốc mà chúng ta từng tuyên hứa, ở Châu Hải Trung, Đạo Thừa Thiên, Đoàn Bạch Mã đã có hai phía hay chưa?

Thác Đỗ Quyên, núi Bạch Mã, Tổ quốc Việt Nam (giữa Huế và Đà Nẵng)
Nguồn: wikimedia.org

Thôi thì cứ mỗi ngưòi một hướng để cùng nhìn về tương lai với tình yêu nước rất riêng mà không làm lòng yêu nước cuả ngưòi khác bị thương tổn.

Phải rào đón như thế, để xin ông hiểu cho, đây chỉ là lời bày tỏ của lớp người bị phản bội, bị nhục mạ, bị trả thù đê tiện nhất sau cuôc chiến.

Với muôn mặt của chiến tranh và những hệ lụy khốc liệt cho dân tộc, cả ngư ông, ngao, cò trong tận cùng của ký ức, vẫn chưa từ bỏ được lăng kính dày cộm của quá khứ để có đuợc cái nhìn trong sáng về tương lai. Ba mươi mốt năm, thời gian chưa đủ dài để nhạt phai khúc khải hoàn ca mịt mù xưong máu của phía thắng trận và dĩ nhiên chưa đủ để lãng quên những nhục nhằn phẩn hận cuả cả triệu triệu ngưòi mặc nhiên là kẽ bại trận. Thế nhưng, để minh thị lòng yêu nưóc, yêu một Tổ Quốc Việt Nam khởi từ Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, cho đến những ngày tháng thanh bình ngắn ngủi và quý báu của Miền Nam sau hiệp định Geneva 1954, thì chẳng có gì là đại ngôn khi chúng tôi, những ngưòi trẻ tuổi của Miền Nam, sinh ra và trưởng thành của những thâp niên 50 đến 70. Gia nhập Quân đội, sống và chiến đấu hết tuổi thanh xuân, hết cả cuộc đời – Chưa có danh vọng để bon chen, chưa có tài sản để tiếc nuối, chưa có nổi một người yêu để mong ngóng cánh thư tình thì làm gì có hạnh phúc nào để quyến luyến, bịn rịn. Chỉ có một hoài bảo duy nhất: Giữ vững Miền Nam, chờ ngày quê hưong thống nhất trong hoà bình, thịnh vượng của cả hai miền đất nưóc. Chúng tôi có thể tự hào về lòng yêu nưóc trong sáng đó.

Tổ Quốc của chúng tôi, chỉ đơn giản là tiếng sáo diều khoan nhặt trên bến Phú Vân Lâu, là hàng phượng già thơm ngát áo ai qua Đồng Khánh. là những đêm trại bay trên đỉnh Bạch Mã xuôi đèo xuống Túy Vân, là khói ấm nhà ai lãng đãng nương chiều… Cho đến khi đã nặng tay súng đạn, tôi vẩn không thể nào hiểu nổi tại sao một Tổ Quốc hiền hòa như thế, lại phải vỡ vụn với chiến tranh. Câu hỏi tự nó kéo theo nhiều điều nghi hoặc mà nhà trường không còn là nơi giải đáp… cho đến mùa Xuân năm Mậu Thân 68, chúng tôi biết mình phải làm gì!

Làm sao mà sách đèn khi chứng kiến đoàn quân mệnh danh Giải Phóng tràn vào thành phố, bắn, giết, man rợ hơn nhiều lũ ngoại xâm? Và những điều từ lâu vốn là điều không bao giờ chúng tôi tin là có thật khi xem phim của Trung tâm điện ảnh: “Chúng tôi muốn sống”… “Ánh sáng Miền nam” lại tái hiện một cách rất thật, rất gần qua những hầm chôn người bị thảm sát? (Không biết kỷ niệm ngày Kinh đô thất thủ, nhà nào cũng cúng Âm hồn, dân xứ tôi có bị giặc Pháp xâm lược, giết nhiều như thế không?)

Huế Mậu Thân, câu trả lời phải mua bằng giá máu của nhiều ngàn người dân xứ Huế, trong đó có bạn bè tôi, anh em tôi, cô chú tôi, dì cậu tôi,hàng xóm tôi. Huế Mậu thân, câu trả lời trỗi dậy từ thành phố điêu tàn đổ nát, Huế mậu Thân… “Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người” (TCS)

Huế, Mậu Thân 1968: Con gái khóc bên xác cha (vừa đào lên, tay bị trói giật cánh khỉ)
Nguồn: ampact.net/Ảnh: MWJM Broekmeijer

Vâng! Huế Mậu Thân đã thôi thúc chúng tôi nhập cuộc.

Nếu chỉ chứng kiến một xác người trôi trên sông Hương, ông đã sững sờ đau đớn. Xác người bất hạnh đó, cho dù chết vì chiến tranh cũng chưa thể xác định bên nào là thủ phạm. Thưa ông, chúng tôi phải làm sao đây khi không phải là một xác người mà là những hầm đầy xác người hai tay bị trói thúc ké, chết vùi dập, chết kinh hoàng, chết chồng chất, chết uất nghẹn…

“Sự thật lớn nhất là niềm đau của nhân dân Việt Nam, là những gì mà người dân hai miền Nam – Bắc đã gánh chịu trong cuộc chiến tàn khốc đó”… Ông đã viết như thế, và chúng tôi cũng biết như thế. Thế nhưng, để người dân miền Nam không còn phải gánh chịu những thảm cảnh Mậu Thân, điều chọn lưa duy nhất mà chúng tôi có là gia nhập quân đội. Tự do và hòa bình không thể xin mà có, thưa ông. Và điều đó không có nghĩa là chúng tôi đổ máu để bảo vệ một chính quyền “Độc tài – Gia đình trị hay Quân phiệt” như ông từng lên tiếng. Hãy ngồi đó, những kẻ nội thù, một khi thanh bình trở lại, chính chúng tôi chứ không ai khác sẽ đưa họ ra ánh sáng công lý.

Rất tiếc, chúng tôi đã không thành công. Sự thất bại của người lính miền Nam trong nhiệm vụ Bảo Quốc An Dân đã là một trọng tội với Tổ Quốc.

Tất nhiên, những sai phạm trong chiến tranh mang đến nhiều tai họa cho người dân ở bên này hay bên kia chiến tuyến đều đáng lên án. Thế nhưng với luận điểm nhằm đánh đồng vụ Mỹ Lai, chất độc màu da cam… oanh kích tự do… vùng trắng… – mà ông viện dẫn – với Mậu Thân để rồi cho rằng cả hai phía đều như nhau thì xin ông hãy nhìn xa hơn một chút để thấy những quyết định của miền Nam – chấp nhận sự hiện diện của quân đội đồng minh trên đất nước mình – tác nhân của những tai hoạ ngoài khả năng kiểm soát. Quyết định đó phải đến sau quyết định gây chiến tranh thôn tính của Hà Nội.

Hiệp định Geneva 1954 chưa ráo mực, chỉ một năm thôi, tháng 5 năm 1955, Đoàn 5… bộ đội Trường Sơn đã lo trắc giác cho tuyến đường chiến lược Hồ Chí Minh, vận chuyển lương thực, vũ khí, chiến cụ cho đến năm 1960 thì Măt Trận Giải Phóng Miền Nam ra đời. Trong thời điểm đó, nếu có một cuộc trưng cần dân ý nào được quốc tế giám sát để hỏi ý người dân miền Nam có cần giải phóng hay không? câu trả lời chắc chắn là không. Mười lăm năm sau câu trả lời đã đau đớn hơn vói thảm nạn vượt biển. Một nửa triệu người hay hơn thế, bỏ xác ở biển đông, làm mồi cho cá biển, cho hải tặc Thái Lan trong suốt mười năm, từ 1975 đến 1985, sau ngày “Miền Nam hoàn toàn Giải Phóng”.

“Chất độc màu da cam” hoặc “Mỹ lai” không hề là sách lược hoặc chiến lược của Việt Nam Cộng Hòa, đó chỉ là những lầm lổi chiến thuật. Trong khi “Mậu Thân – Tù cải tạo – bán biển lấy vàng” là sách lược đuổi tận giết tuyệt cùa Hà Nội. Và đó cũng là sự khác nhau giữa hai chế độ.

Tất cả có thể đã là quá khứ, dù không thể nào tha thứ. Nhưng các bên có liên quan ở “Cuối đời nhìn lại” đều có khả năng thức tỉnh và sám hối. Hãy thật lòng thức tỉnh và sám hối mới có thể cùng nhau hướng tới tương lai. Tôi thật không thể nào hiểu được từ ngữ “cảnh giác” trên đầu bài của ông.

Copyright © 2006–2007 DCVOnline


DCVOnline:
(1) Tỉnh thức, cảnh giác nhưng thông cảm và bao dung, Tiêu Dao Bảo Cự, talawas, 14/9/2006
(2) Cùng nhau hướng tới tương lai, Tiêu Dao Bảo Cự, talawas, 18/10/2006
(3) Lời hứa của Hướng đạo sinh Việt Nam
Tôi xin lấy danh dự, hứa cố gắng hết sức:
— Làm bổn phận với tín ngưỡng, tâm linh và quốc gia tôi,
— Giúp ích mọi người bất cứ lúc nào,
— Tuân theo luật Hướng đạo.
Mười Ðiều Luật Hướng Đạo
1. Hướng đạo sinh (HÐS) trọng danh dự, ai cũng có thể tin lời nói của HÐS.
2. HÐS trung thành với tổ quốc, với cha mẹ và với người cộng sự.
3. HÐS sẵn sàng giúp ích mọi người.
4. HÐS là bạn của tất cả mọi người và xem HÐS khác như anh em ruột thịt.
5. HÐS lễ độ và liêm khiết.
6. HÐS thương yêu cây cỏ và sinh vật.
7. HÐS vâng lời cha mẹ và huynh trưởng mà không biện bác.
8. HÐS gặp nỗi khó khăn vẫn vui tươi.
9. HÐS cần kiệm của mình và của người.
10. HÐS trong sạch từ tư tưởng, lời nói đến việc làm.Phan Hội Yên

 

 

Bài viết này từ DCVOnline
http://www.dcvonline.net/php/

 

No Comments

Tình trạng mơ hồ có tính toán tại Biển Đông

December 17th, 2009    Posted in Uncategorized
Tình trạng mơ hồ có tính toán tại Biển Đông Peter J Brown, Asia Times Online, ngày PDF In E-mail
17/12/2009

 

Peter J Brown, Asia Times Online, ngày 08/12/2009

Nguồn: http://www.atimes. com/atimes/ Southeast_ Asia/KL08Ae01. html

Ngay lúc một nhóm chuyên gia bay đến Hà Nội hồi tháng trước để dự hội thảo lần đầu tiên qui tụ nhiều nước có tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông, tàu giám hộ đánh cá lớn nhất Trung Quốc, Ngư Chính 311, đã thả neo tại Đảo Vĩnh Hưng (tức Đảo Phú Lâm – người dịch) thuộc quần đảo mà Bắc Kinh gọi là Tây Sa (tức Hoàng Sa – người dịch). Đó là hành động khởi đầu cho chuyến tuần tra dài ngày của Trung Quốc tại Biển Đông, kể từ căn cứ hải quân Tam Á trên Đảo Hải Nam.

Trung Quốc khẳng định chủ quyền nhiều nơi trên Biển Đông, như quần đảo Nam Sa, Tây Sa và Trung Sa, những nguyên đơn khác – gồm Việt Nam, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei và Philippines – cũng đang tranh chấp chủ quyền trên các nhóm đảo và những đảo riêng lẻ. Họ gọi bằng các tên khác nhau chẳng hạn Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Bãi ngầm Scarborough và Macclesfield, chỉ đơn cử một vài trường hợp.

Bằng chứng về hoạt động bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông có thể xác định tại những điểm khống chế mặt bằng khó hiểu, chẳng hạn Đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, nơi Trung Quốc liên tục mở rộng và cải thiện đường băng, cũng như Bãi Vành Khăn xa xôi – khoảng 150 dặm về hướng Tây của Philippines, nơi Trung Quốc lập nên nhiều công trình xây dựng khác nhau. Láng giềng của Trung Quốc xem tiến trình này là hoạt động bành trướng và thậm chí thù địch, tuy đã cùng ký vào Tuyên bố chung về cách Ứng xử của các Bên trên Biển Đông năm 2002.

Theo một số chuyên gia an ninh, mục tiêu cuối cùng của Trung Quốc không đơn thuần việc xây dựng vùng kinh tế đặc quyền rộng lớn (EEZ – Exclusive Economic Zone), mở rộng xuống tận phía Nam nơi Quần đảo Natuna giàu khí đốt mà Indonesia đã khẳng định chủ quyền. Họ cho rằng Trung Quốc muốn kiểm soát Biển Đông như một phần trong kế hoạch xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh hơn, với hạm đội tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân (SSBN – nuclear ballistic missile submarine), trên những hải tuyến mở rộng từ Thái Bình Dương cho đến Ấn Độ Dương. Biển Đông là hải tuyến nhộn nhịp đứng hàng thứ hai thế giới, là cửa ngõ để Trung Quốc nhập khẩu dầu từ Vịnh Péc-xích cùng tài nguyên thiên nhiên từ Châu Phi.

“Các chiến đoàn hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc đặt căn cứ trên Đảo Hải Nam, và chúng sẽ tuần tra những tuyến vận chuyển tài nguyên này. Theo lãnh đạo chính trị Trung Quốc, kiểm soát Biển Đông là một mục tiêu then chốt nhằm đảm bảo sự tồn vong về kinh tế cũng như chính trị cho nền cai trị độc tài của Đảng Cộng sản,” Richard Fisher, học giả cao cấp thuộc Trung tâm Đánh giá và Chiến lược Quốc tế ở Washington, phát biểu.

Tuy nhiên, ông cho rằng Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia và nhiều nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vẫn đang cản đường Trung Quốc.


“[Trung Quốc muốn] biến Biển Đông thành lãnh hải được bảo vệ sát sao cho hoạt động SSBN cho đến khi Đài Loan có thể cung cấp căn cứ tốt hơn cho những hoạt động SSBN,” Fisher nhận định. “Trung Quốc có thể đặt phân nửa số tên lửa hạt nhân trên các SSBN, tức họ sẽ dừng lại chỉ sau khi đã áp đặt được hình thức quản lý tương lai cho Biển Đông.” Hành động tăng cường sự hiện diện trên biển của Trung Quốc đồng nghĩa với việc Cục Quản lý Nhà nước về Tài nguyên Biển (SOA – State Oceanic Administration) và Cơ quan Giám sát Đường biển Trung Quốc (CMS – China Maritime Surveillance) muốn rằng ngư dân và tàu nghiên cứu đại dương di chuyển trên Biển Đông của các quốc gia khác trong vùng sẽ ngày càng phải giáp mặt nhiều hơn những tàu lớn hơn và tối tân hơn của Hải quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN), trong đó có tàu Ngư Chính 311.

Biến cố hôm 16/03 chứng tỏ Bắc Kinh ngày càng tỏ ra sẵn sàng ra lệnh cho các tàu không thuộc PLAN, gồm những tàu thuộc hải đoàn SOA và CMS, thi hành các hành động vũ lực tại quần đảo Trường Sa – nhằm làm nhục những nước láng giềng, đặc biệt là Philippines. Sau khi tàu do thám USNS Impeccable của Hoa Kỳ bị tàu Trung Quốc quấy rối hôm 08/03, Trung Quốc đã triển khai cái họ gọi là tàu ngư chính (tuần tra ngư thuyền) – chứ không phải tàu chiến – nhằm bảo vệ quyền lợi của họ trên Biển Đông.

“Trung Quốc thiết tha muốn biến ý đồ kiểm soát Biển Đông thành một hành động gìn giữ trật tự mang tính đối đầu, trong khi Việt Nam, Philippines và các quốc gia khác về cơ bản chẳng làm gì cả,” Fisher phát biểu. “Trao cho cơ quan không thuộc PLAN những tàu lớn hơn cùng hỏa lực mạnh hơn có thể là một nỗ lực quân sự hóa mang tính giảm nhẹ, nhưng tác động gây bất ổn thì vẫn như nhau.”

Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông thường phát sinh xung đột, trong đó có cuộc đụng độ giữa tàu hải quân Trung Quốc và Việt Nam năm 1988 ở Bãi Đá Gạc Ma thuộc Quần đảo Trường Sa. Phiên họp chung hồi tháng trước tại Hà Nội, do Học viện Ngoại giao cùng Hội Luật gia Việt Nam đồng tổ chức, đã đi đến các hứa hẹn khởi động cuộc đối thoại đa phương về nhiều tuyên bố chủ quyền chồng lấn chưa được giải quyết trong khu vực.

“Tuy trong quá khứ Trung Quốc luôn cương quyết về những giải pháp song phương, song chẳng đạt được tiến bộ nào vì hầu hết tranh chấp đều cần sự nhượng bộ từ nhiều phía. Mục tiêu hội thảo là nhằm xây dựng lòng tin qua hai phiên thảo luận sơ bộ và không ràng buộc, đồng thời một tín hiệu tốt là các học giả Trung Quốc đã tham dự hội nghị vì điều này sẽ phản ánh mức độ chấp nhận nào đó bên phía Trung Quốc về cách tiếp cận đa phương nhằm gỡ rối xung đột,” Dutton phát biểu.

Theo một trong những người tham dự, Carlyle Thayer, giáo sư chính trị học tại Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia, chẳng có phái đoàn quốc gia nào tham dự, các đại diện Trung Quốc được hoan nghênh chỉ đến từ trường đại học và tổ chức nghiên cứu chính sách (think tank). “Cuộc họp được gọi là hội thảo, chứ không phải hội nghị, nhằm tránh ấn tượng hy vọng rằng một loạt các kết luận dưới dạng một nghị quyết hay một tuyên bố sẽ được ban hành,” Thayer nhận định.

Sự kiện đã thành công trong việc xới lên những quan ngại trong khu vực về diễn biến Biển Đông, nơi cho là đang tàng trữ rất nhiều dầu khí, được “các đại biểu nhấn mạnh là đang chuyển biến hoặc có tiềm năng xấu,” Thayer phát biểu. “Đã nổi lên sự đồng thuận cho rằng một đề xuất phối hợp phát triển lâu dài phải được phục hồi để các nước tham gia tranh chấp xem xét.”

Bản đồ ngớ ngẩn

Thayer nhận định, bên cạnh sự kiện “chẳng có ai đại diện cho Trung Quốc,” quan trọng hơn có lẽ là “bản đồ chín đường đứt đoạn” do một học giả Trung Quốc trình bày, “hiện đang gây tranh luận”. Năm 1947, Chính phủ Tưởng Giới Thạch đưa ra tuyên bố Biển Đông với một bản đồ có 11 đường đứt đoạn.

Bản đồ này được Cộng sản Trung Quốc thừa nhận lúc họ lên nắm quyền và sau đó Thủ tướng Chu Ân Lai xóa đi hai đường trong Vịnh Bắc Bộ, giảm 11 đoạn về chín. Bản đồ không chính thức chứa chín đường đứt đoạn đã được lưu hành từ lâu. Các quan chức trong khu vực không thể yêu cầu Trung Quốc giải thích cơ sở nào đã tạo ra những đường đứt đoạn này và diện tích khu vực mà họ khẳng định chủ quyền, theo Thayer.

“Học giả Trung Quốc nói rõ rằng bản đồ Biển Đông chính thức có chứa chín đường đứt đoạn, thể hiện phạm vi mở rộng tối đa của những tuyên bố chủ quyền trong lịch sử của họ về khu vực này. Chuyên gia Trung Quốc lưu ý rằng vấn đề này có thể được thảo luận thêm,” Thayer cho hay. “Chẳng hạn, một học giả Trung Quốc đề nghị, nếu các nước khẳng định chủ quyền trên thềm lục địa mở rộng rút lại những khẳng định đó, một số khu vực bên trong đường đứt đoạn có thể tuân theo việc phát triển chung.”

Đề xuất này gắn liền với bản đăng ký thềm lục địa mở rộng do Việt Nam và Malaysia đệ trình hồi đầu năm theo thời hạn mà Liên Hiệp Quốc đã đề ra. Hai nước đăng ký chung các khu vực phía Nam, trong khi Việt Nam trình riêng bản đăng ký thềm lục địa mở rộng ở phía Bắc.

“Trung Quốc đã gửi công hàm phản đối kèm theo bản đồ chín đường đứt đoạn nhằm chỉ ra khu vực mà họ bảo là thuộc về Trung Quốc. Có vẻ đây là lần đầu tiên Chính phủ Trung Quốc đệ trình bản đồ này,” Thayer cho biết. “Trung Quốc đang cố tình theo đuổi chính sách mơ hồ có tính toán trong vấn đề này. Họ đang trì hoãn bất kỳ hòa giải nào về những tuyên bố chủ quyền lãnh hải gây tranh chấp cho đến lúc thích hợp với Bắc Kinh.

Hiện đã có thảo luận về một hội thảo Biển Đông lần thứ hai tại Hà Nội vào giữa năm 2010. Dutton xác định một số đề mục có thể thảo luận. “Một bước đi tích cực là tổ chức diễn đàn đa phương mang tầm khu vực nhằm thảo luận nhiều dự án đa phương khả dĩ, có thể nghiên cứu phạm vi các trữ lượng hydrocarbon dưới Biển Đông,” Dutton phát biểu.

“Bước đi tích cực khác có thể bao gồm phát triển khuôn khổ quản lý đa phương về tài nguyên sinh vật, cùng một tổ chức mang tầm khu vực nhằm điều phối hoạt động đánh cá bền vững cho tất cả các bên liên quan, dựa trên hiệp ước cấp phát tổng lượng đánh bắt cho phép đối với những bên khác nhau. Các bước đi như thế sẽ giải quyết được một số thách thức ít rắc rối hơn, trong lúc tạm thời hoãn lại những vấn đề khó khăn liên quan đến chủ quyền,” ông nói.


Tuyên bố thành kiến

Dutton lưu  ý rằng tranh luận bên trong Trung Quốc luôn khăng khăng về bản chất xác thực của các khẳng định chủ quyền và quyền tài phán nhà nước duyên hải của họ trên Biển Đông. Ngoài những vấn đề khác, rất có thể ở đây Trung Quốc sẽ thiên về giải pháp chính trị, thay vì giải pháp áp dụng một khuôn khổ pháp lý mà có thể phương hại đến các tuyên bố của họ, ông nhận định.

“Luật pháp bên trong Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền trên mọi hòn đảo thuộc Biển Đông đồng thời còn khẳng định những lãnh hải và EEZ phát xuất từ các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của họ. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể hưởng lợi nếu duy trì tình trạng mơ hồ về bản chất xác thực của những khẳng định pháp lý Biển Đông của họ,” Dutton phát biểu.

“Điều vô cùng quan trọng là việc hòa giải các tuyên bố của Trung Quốc trên Biển Đông không được áp dụng biện pháp pháp lý mà có thể ảnh hưởng đến những khẳng định chủ quyền của họ đối với Nhật Bản trên Biển Hoa Đông. Như vậy, từ quan điểm Trung Quốc, khuôn khổ pháp lý nhằm giải quyết các tranh chấp Biển Đông phải được triển khai sao cho không được phương hại đến những tuyên bố chủ quyền trên Biển Hoa Đông của họ.”

Dù có  hay không khuôn khổ pháp lý, Thayer tin rằng Trung Quốc sẽ theo đuổi hành động gây chia rẽ các nước trong khu vực và nhắm vào những thỏa thuận song phương.

“Trung Quốc hiện đã bảo 10 thành viên thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á rằng họ cần phải làm việc với nhau trước khi tiếp cận Trung Quốc để thảo luận về Biển Đông. Một số nước ASEAN cho rằng việc đạt được sự đồng thuận trong 10 quốc gia ASEAN sẽ gặp khó khăn, đồng thời một khối duy nhất chỉ tạo ra xích mích trong lúc đàm phán với Trung Quốc,” Thayer cho hay.

Tiếp sau hội thảo gần đây ở Hà Nội sẽ là vòng thảo luận khác về Biển Đông vào ngày 16/12. Vòng kế tiếp được gọi là những thảo luận về Thỏa thuận Tư vấn Quân sự Hàng hải (MMCA – Military Maritime Consultative Agreement) gồm các phái đoàn đến từ Trung Quốc và Hoa Kỳ. Cuộc họp sẽ diễn ra tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á – Thái Bình Dương ở Honolulu, Hawaii.

“Về cơ bản, Hội nghị Việt Nam là “bản nhạc thứ hai” nhằm thảo luận một số vấn đề, trong khi MMCA lại là “bản thứ nhất” về đối thoại quân-sự-với-quân-sự,” Dutton nhận định. “Hội nghị Việt Nam sẽ không tác động đến MMCA, vì vấn đề thảo luận khác nhau về cơ bản. Đại biểu tham dự Hội nghị Việt Nam đã thảo luận về vấn đề chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, trong khi thảo luận của MMCA sẽ tập trung vào quyền tự do đi lại và việc sử dụng quân sự trên vùng biển ngoài bờ Trung Quốc.”

Thayer lưu ý rằng Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội đã không gửi quan sát viên ngoại giao của mình đến dự hội thảo, như vậy Hoa Kỳ đã đứng xa các tranh chấp chủ quyền và lãnh thổ trên Biển Đông. “Phiên họp MMCA kế tiếp có thể ngăn chặn hành động đối đầu trên biển, chẳng hạn vụ liên quan đến tàu USNS Impeccable. Nhưng ‘Thỏa thuận về Đối đầu trên Biển’ có thể phải mất từ một năm trở lên mới được ký kết,” Thayer phát biểu.

Thayer đề cập đến chuyến viếng thăm Hoa Kỳ hồi tháng 10 của Tướng Xu Caihou, Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương. Tướng Xu xác định bốn trở ngại cho mối quan hệ quân sự Hoa Kỳ – Trung Quốc lành mạnh và ổn định, bắt đầu là Đài Loan, ông kêu gọi Hoa Kỳ chấm dứt hoạt động xâm nhập EEZ trên vùng biển Trung Quốc bằng máy bay quân sự và tàu thủy.

“Mục tiêu chính của Trung Quốc là khiến Hoa Kỳ giảm bớt, nếu không nói là chấm dứt, những hoạt động giám sát ven miền duyên hải Trung Quốc và đặc biệt là căn cứ hải quân trên Đảo Hải Nam,” Thayer nhận định.

Bên cạnh yêu cầu của Tướng Xu, Fisher còn cho hay một vị tướng PLA vừa nghỉ hưu đã công khai kêu gọi Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ việc triển khai lực lượng quân sự của họ trên Biển Đông đồng thời xây dựng một căn cứ không quân trên Bãi Vành Khăn thuộc Quần đảo Trường Sa.

“Ngoài vấn đề chỉ cách xa đảo Palawan của Philippines 200 dặm, nó sẽ mở rộng phạm vi kiểm soát của PLA đến tận Eo biển Palawan, một hải tuyến thương mại sống còn đối với Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan,” Fisher phát biểu, mới đây ông đã viết một bài về vấn đề này. “Căn cứ không quân trên Bãi Vành Khăn sẽ tạo ra một thách thức an ninh ở cấp rất cao khiến Washington không thể bỏ qua.”

Các hòn đảo thuộc Đài Loan trên Biển Đông còn làm cho vấn đề càng phức tạp hơn. “Còn có những đảo nhỏ hơn sát với Hải Nam do Đài Loan chiếm giữ. Bắc Kinh có thể viện dẫn một số lý do, từ hoạt động quân sự đe dọa nhắm vào cơ sở hạt nhân trên Hải Nam, cho đến tham vọng tạo ra tình trạng bất ổn tại Đài Loan, để xâm chiếm chúng,” Fisher cho hay.

“Nhờ đầu tư cả chục năm vào lực lượng lính thủy đánh bộ, PLA có thể dễ dành đánh chiếm những hòn đảo này. Ngoài việc từ lâu thừa nhận chính sách ‘Một Trung Quốc’ của Bắc Kinh, rất khó xảy ra khả năng bất kỳ quốc gia Châu Á nào sẽ phản ứng theo cách bảo vệ quyền lợi to lớn hơn của Trung Quốc.”

Biển  Đông và ngay cả Đài Loan đã không còn là tầm quan trọng chiến lược đối với Hoa Kỳ như trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Nhưng Trung Quốc không nên xem lập trường ngày càng “vô tư” này là hiển nhiên. Chiến lược của Hoa Kỳ có thể sẽ chuyển biến, gia tăng theo hoạt động quân sự của Trung Quốc bên trong khu vực. Đồng thời vẫn còn quá sớm nếu cho rằng hội thảo Hà Nội đặc biệt mở ra một chương mới quan trọng về cách giải quyết của Trung Quốc với các nước láng giềng.

Việc tiếp tục thể hiện thái độ trung lập của Hoa Kỳ sẽ chỉ phục vụ cho việc đẩy nhanh đến ngày Trung Quốc thành kẻ bá quyền phi dân chủ trong khu vực, với khả năng sử dụng những áp lực kinh tế và quân sự to lớn nhằm buộc các nước trong vùng tuân theo ý muốn của họ,” Fisher phát biểu.


Peter J Brown là một nhà văn tự do sống ở tiểu bang Maine – Hoa Kỳ.


BVN dịch

http://bauxitevietn am.info/c/ 20860.html

 


Dong Tran
ARCHIVE OF VIETNAMESE BOAT PEOPLE
Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam
www.vktnvn.com       www.vnbp.org
+61 403 578 467      0403 578 467 (Australia only)
Other email: ‘ ); // –>Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó ” target=_blank>dongthtran@yahoo. com.au

No Comments

Tuổi trẻ Việt Nam – Hoc lich sử để làm lịch sử

December 16th, 2009    Posted in Uncategorized

Trần Trung Đạo: Tuổi trẻ Việt Nam, học lịch sử để làm lịch sử

Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh Sài Gòn những ngày cuối tháng Giêng ba mươi ba năm trước. Sau những trận hải chiến dữ dội chung quanh quần đảo Hoàng Sa để chống lại các lực lượng hải quân Trung Quốc đông hơn và mạnh hơn gấp nhiều lần, chiều 20 tháng 1 năm 1974, các đơn vị hải quân Việt Nam Cộng hoà đã buộc phải triệt thoái khỏi quần đảo Hoàng Sa, nơi tổ tiên chúng ta đã bao đời gìn giữ. Trong vùng biển mẹ thân yêu, từ đó đã nhuộm thêm máu của những người con ruột thịt. Các anh Ngụy Văn Thà, Nguyễn Thành Trí, Vũ Văn Bang, Ngô Chí Thành và nhiều thanh niên Việt Nam khác đã theo dấu chân của bao nhiêu anh hùng dân tộc mà đền nợ nước. Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc.

Sài Gòn ngày tháng đó buồn như một đám ma. Những cụm mai vàng chào đón xuân sang không làm phai đi màu đen tang chế đang phủ trùm lên cả miền Nam. Những cuộc biểu tình rầm rộ từ Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ không làm vơi đi nỗi buồn nhược tiểu trong lòng những người đang ưu tư cho vận nước. Những bản hùng ca xen lẫn với những tiếng kèn truy điệu của các chương trình phát thanh quân đội đã làm người dân rơi nước mắt xót thương cho số phận hẩm hiu của tổ quốc mình. Hạm đội thứ bảy hùng hậu của Mỹ khóa súng an toàn nhìn hải quân Trung Quốc đổ bộ Hoàng Sa, hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam từ chối lời kêu gọi của phái đoàn Việt Nam Cộng hoà tố cáo Trung Quốc xâm lăng. Đồng minh dửng dưng, đồng bào ngoảnh mặt. Có nỗi xót xa nào lớn hơn nỗi xót xa của số phận một tiền đồn và có vết thương tâm linh nào sâu hơn, đau hơn vết thương của một người mẹ bị bỏ rơi bởi chính những đứa con yêu quý của mình.

Chiều năm đó ngồi trong thư viện tôi có làm một bài thơ và viết một đoản văn. Tôi không còn nhớ bài thơ nhưng đoản văn tôi còn nhớ rất rõ, và sau này khi làm website xuQuang tôi có ghi lại trong phần tưởng niệm Hoàng Sa: “Mỗi người Việt Nam phải ghi khắc trong tim mình: Hoàng Sa là đảo Việt Nam, là biển Việt Nam, là đất Việt Nam. Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ hôm nay không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung cộng bá quyền hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa.”

Ba mươi ba năm sau. Cũng những ngày cuối năm, ngồi xem hình ảnh các cuộc biểu tình ở Hà Nội, đọc bản tin được viết vội vàng trên đường phố Sài Gòn, đọc danh sách của những người ký tên, trong đó đa số là tuổi trẻ, để phản đối Trung Quốc vi phạm lãnh thổ Việt Nam trên Internet, tôi vui mừng và cảm động. Trung Quốc không phải vì các cuộc biểu tình của các em mà trao trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách bá quyền của họ trên biển Đông. Để duy trì mức phát triển kinh tế hiện nay và chạy đua với các cường quốc kinh tế, Trung Quốc đang cần sự ổn định chính trị và kinh tế hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng.

Nhìn các em tôi lại nhớ đến chính mình. Đường phố Sài Gòn, nơi các em đang đứng hôm nay cũng là nơi tôi đã đứng đọc từng tên của những người đã ở lại trong lòng biển cả. Khẩu hiệu “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng là khẩu hiệu mà sinh viên chúng tôi đã hô ba mươi ba năm trước. Chúng ta có thể còn vài điểm khác nhau nhưng có chung một tổ quốc. Đó là điều hệ trọng. Lòng yêu nước đã thúc giục các em vượt qua bức tường sợ hãi, bất chấp sự ngăn cản của Đảng, của nhà nước, của ban lãnh đạo trường để cùng xuống đường nói tiếng của một người Việt Nam khi tổ quốc lâm nguy. Lịch sử bao giờ cũng mang tính thời đại, và trang sử Việt Nam hôm nay đang được viết bởi các em, những người Việt Nam đang đứng trước toà đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội, trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn. Và cũng qua những biến cố lịch sử này, các em sẽ có cơ hội thấy những sự thật đắng cay, những bài học bẽ bàng mà từ trước đến nay đã bị che lấp bởi hệ thống tuyên truyền lừa dối của Đảng. Các em đang học lịch sử và đang làm lịch sử.

Trong các cuộc xung đột về lãnh thổ, bằng chứng và di tích lịch sử thì bên nào cũng có thể có nhưng văn kiện pháp lý được cả hai bên xung đột công nhận thì thường rất hiếm hoi. Tôi nhớ có đọc đâu đó một câu chuyện bên lề các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Liên Xô về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri. Theo câu chuyện này, mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc thường chở theo cả một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc là một nước đông dân, diện tích rộng, có nền văn minh phát triển rất sớm, có chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, do đó, việc tổ tiên họ đã từng đến, từng đi đánh cá, từng đặt chân, từng mô tả trong văn chương thơ phú về các hòn đảo đó thì cũng không có gì là đáng ngạc nhiên. Những tài liệu phía Trung Quốc đưa ra hay vật dụng họ góp nhặt được dù bao nhiêu cũng không thuyết phục được Liên Xô về chủ quyền của Trung Quốc trên lãnh thổ đang bị tranh chấp. Sau hơn 20 năm đánh rồi đàm, một hiệp ước biên giới Nga – Hoa đã được ký kết lần đầu vào tháng 10 năm 1995 và lần nữa vào tháng 10 năm 2004. Theo nội dung hiệp ước, phần thắng nghiêng về phía Trung Quốc nhiều hơn. Trung Quốc được kiểm soát cả hai đảo Trân Bảo, Ẩn Long và một nửa Hắc Hạt Tử. Giả thiết hiệp ước này được ký kết vào năm 1969, với nội dung tương tự, có lẽ nhân dân Trung Quốc đã được nghỉ một tuần lễ để ăn mừng chiến thắng và ngày ký đã trở thành ngày lễ lớn của quốc gia. Nhưng hiệp ước ký kết vào tháng 10 năm 2004 trôi qua gần như trong âm thầm. Cả Trung Quốc và Nga đều biết, ngay từ trong căn bản, lý do chính của xung đột không phải là lãnh thổ mà là sự tranh chấp quyền lực, uy thế của hai nước cộng sản đàn anh trong phong trào cộng sản quốc tế. Về phía Nga, sau khi Liên Xô sụp đổ, họ cần sự ổn định để phục hồi nền kinh tế gần như bị phá sản, và do đó sự xung đột chủ quyền trên các đảo vốn không chứng tỏ một tiềm năng kinh tế nào đã không còn lý do để kéo dài thêm.

Việc xung đột lãnh thổ với Việt Nam thì khác. Để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, chính quyền Trung Quốc không cần phải chở một toa xe lửa tài liệu hay bằng chứng nào cả. Những lời tuyên bố của phát ngôn viên chính phủ Trung Quốc dù nói vòng vo từ chuyện đời xưa đến đời nay cho có lệ, cuối cùng cũng chỉ rút trong túi ra một văn kiện khá mới mẻ, rất hợp pháp, dài vỏn vẹn 121 chữ tính cả phần chào hỏi nhưng lại đầy thuyết phục, đó là công hàm của Thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng. Nội dung chính của công hàm: “Thưa đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.

Khi đọc bản tuyên bố này lần đầu cách đây khá lâu thú thật tôi không tin đó là văn bản thật mà là tài liệu giả mạo do Trung Quốc viết hay chỉ là sản phẩm tuyên truyền của một tổ chức chống cộng nào đó dựng lên để bêu xấu Đảng. Hai tiếng Hoàng Sa và Trường Sa thân thương quen thuộc từ bao đời là một phần của ngôn ngữ Việt Nam như hai quần đảo vẫn được xem là phần da thịt, máu xương bất khả phân ly của thân thể Việt Nam.

Các chính phủ Trung Quốc, Philippines, Malaysia có quyền không công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam hay hoàn toàn của Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan, Brunei cũng có thể cho rằng Trường Sa là đất của họ. Tình cảm đất nước là một tình cảm thiêng liêng nhưng cũng ít nhiều bảo thủ mà dân tộc nào cũng có. Tình cảm đó cũng cần được xem xét và tôn trọng. Các quốc gia tranh chấp phải giới thiệu các bằng chứng lịch sử, các văn kiện pháp lý trong một hội nghị quốc tế đa phương để thương thảo và tìm một giải pháp phù hợp với công pháp quốc tế cũng như quyền lợi của các nước trong vùng tranh chấp. Những hòn đảo không người ở, những triền đá nhọn nhô lên giữa đại dương mênh mông từ mấy ngàn năm, trong thời đại dầu hoả bỗng trở thành quan trọng, việc xung đột vì thế là điều khó tránh, tuy nhiên, sự kiện một ông thủ tướng Việt Nam nhân danh nước Việt Nam để công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc mà không cần phải đưa ra trước quốc hội để biểu quyết, không cần tranh luận, hội họp, không cần phải bắn nhau một viên đạn nào, quả là một việc không thể nào tin được và đương nhiên cũng không thể nào chấp nhận được.

Văn bản do ông Phạm Văn Đồng ký là một vết nhơ trong lịch sử dân tộc và tên tuổi ông Phạm Văn Đồng cũng sẽ dơ như chữ ký của ông. Tuy nhiên, thật bất công nếu chỉ đổ tội lên một mình ông Phạm Văn Đồng. Trong cương vị Thủ tướng, ông phải là người ký công hàm gởi cho Chu Ân Lai, Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng ông Phạm Văn Đồng không phải là người tự quyết định mà chỉ thừa hành quyết định chung của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vào thời điểm tháng 9 năm 1958, những người sau đây phải chịu trách nhiệm cho việc triều cống hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, và danh sách của họ được sắp xếp theo thứ tự trong Bộ Chính trị Đại hội lần II năm 1951 cũng như được bổ túc trong những năm sau đó: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan.

Tại sao họ đã làm như thế? Họ bị áp lực của Trung Quốc? Không. Không có một tối hậu thư nào của nhà cầm quyền Trung Quốc buộc Việt Nam phải thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc, nếu không họ sẽ dùng võ lực để tiến chiếm hai quần đảo, vượt biên giới Lạng Sơn hay đổ bộ lên Hải Phòng. Cho dù có tối hậu thư đi nữa thì cũng không phải lần đầu Việt Nam nhận tối hậu thư của quân xâm lược. Trước đây, các vua Lý, vua Trần đã nhận và mới đây Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương đã nhận, và các anh hùng dân tộc đã chọn chiến đấu tới cùng và đã chết trên nắm đất của tổ tiên thay vì dâng thành cho giặc.

Trên thế giới chưa có một cuộc phân định biên giới nào giữa hai quốc gia mà không phải trải qua những hội nghị, những cuộc thảo luận, đo đạc cần thiết về các giới hạn trên biển cả cũng như lằn ranh trên đất liền. Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất là quan trọng nhất. Câu “tấc đất tấc vàng” không chỉ đúng cho trường hợp một nước đất hẹp người đông như Việt Nam mà đúng cho bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Hãy lấy trường hợp Bắc Hàn làm ví dụ. Nếu theo dõi các hội nghị về biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Hàn chúng ta có thể nghĩ rằng Trung Quốc muốn gì chắc là được nấy, muốn vẽ biên giới đâu thì vẽ. Không. Bắc Hàn tự cô lập khỏi thế giới giới văn minh, trong nhiều năm đã lệ thuộc vào Trung Quốc không những chính trị, ngoại giao mà cả từng chén cơm manh áo, nhưng họ nhất định không nhượng cho Trung Quốc một tấc đất nào qua các hội nghị về đường biên giới dài 1416 kilomét giữa hai nước. Mặc dù cai trị đất nước bằng một lý thuyết ngu dân hoang tưởng, bằng một chính sách độc tài sắt máu bị phần lớn nhân loại rẻ khinh, xa lánh, cha con Kim Nhật Thành ít ra có một điểm đáng khen mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không có, đó là quyết tâm giữ đất của tổ tiên họ để lại.

Nhiệt tình cao độ của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chắc đã làm không chỉ Mao mà cả Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phải ngạc nhiên hết sức. Tôi tin bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc hẳn đã tốn rất nhiều thời gian, tổ chức nhiều phiên họp tìm hiểu, phân tích, đánh giá nội dung công hàm của ông Phạm Văn Đồng để xem phía Việt Nam có ẩn ý gì trong 121 chữ đó không, chẳng lẽ Việt Nam tự nguyện dâng hai quần đảo một cách dễ dàng như thế. Không, không có ẩn ý, âm mưu nào cả ngoài việc chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam với Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Cấp lãnh đạo Trung ương Đảng thời đó còn lo ngại đàn anh Trung Quốc không tin vào lòng dạ chí thành của mình nên đã cho đăng toàn bộ nội dung công hàm trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 9 năm 1958 để toàn Đảng, toàn dân và toàn thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Không giống như hiệp ước biên giới Việt Trung vào các năm 1999 và năm 2000 được ký kết lén lút đến mức ngay cả những ông bà đại biểu quốc hội khi đưa tay phê chuẩn cũng không biết nội dung hiệp ước nói gì, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, qua công hàm 1958, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của lục địa Trung Hoa, có đính kèm luôn bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa.

Tại sao họ đã làm như thế? Họ không rành lịch sử Việt Nam? Chẳng lẽ họ chưa thấm thía câu “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt” và không cảm thông cho sự chịu đựng vô bờ bến của tổ tiên suốt một ngàn năm qua bốn lần Bắc thuộc, phải xuống biển tìm ngọc trai, lên non tìm sừng tê, ngà voi, bạc vàng châu báu hay sao? Tôi không nghĩ vậy, vì ít nhất trong số 11 ủy viên Bộ Chính trị thời đó cũng có một người đã từng dạy sử. Họ làm thế chỉ vì niềm tin tuyệt đối vào chủ nghĩa cộng sản. Niềm tin mù quáng vào một xã hội đại đồng đã làm giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ rằng Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và những người cộng sản Trung Quốc mà họ đang thần phục là những bậc thánh hiền chứ không phải là giống dân đã hàng ngàn năm đày đoạ tổ tiên Việt Nam. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận sự lệ thuộc vào Trung Quốc hay đúng hơn là quan hệ chủ tớ này trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992: “Tình hữu nghị Việt – Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị. Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.” Cuộc chiến bảo vệ tổ quốc mà ông Nguyễn Mạnh Cầm nhắc trong buổi họp báo nêu trên, tương tự như khi ông Phạm Văn Đồng trả lời báo Far Eastern Economic Review tháng 3, 1979 hay hầu hết các lãnh đạo Đảng khác đã nhiều lần viện dẫn là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước”, thế nhưng, năm 1958, ngoại trừ một số ít nhân viên thuộc Nhóm Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group), làm gì có quân Mỹ để mà chống?

Tại sao họ đã làm như thế? Khi đem hai quần đảo vô cùng quan trọng của đất nước về chiến lược quân sự cũng như về tiềm năng kinh tế dâng hiến cho Trung Quốc để gọi là “ bảo vệ tổ quốc” thì tổ quốc mà các giới lãnh đạo Đảng cần phải bảo vệ là tổ quốc nào? Như giải thích trong hầu hết tài liệu học tập, giáo trình trung, đại học tại Việt Nam, người cộng sản không có tổ quốc theo nghĩa thông thường mà chúng ta thường hiểu. Khái niệm tổ quốc đối với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đơn thuần là dải giang sơn từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mà bao nhiêu thế hệ tiền nhân đã dày công gìn giữ, không phải chỉ gồm 40 triệu người ngày đó hay 80 triệu người ngày nay có cùng huyết thống, cùng một ngôn ngữ, cùng một lịch sử, mà phải là tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một đất nước bị thống trị trong bàn tay sắt của Đảng Cộng sản. Mụch đích của Đảng như đã đề ra trong Đại hội Đảng lần thứ II tại Tuyên Quang bao gồm giai đoạn từ 1951 đến 1960: “Giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.” Năm 1958, một nửa nước chưa trở thành chủ nghĩa xã hội và do đó mục đích của Đảng chưa hoàn thành. Để thôn tính miền Nam và hoàn thành mục đích cộng sản hóa cả nước, họ cần súng đạn của Liên Xô và Trung Quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là giá mà giới lãnh đạo Đảng phải ứng trước để đổi lấy nhiều vạn trái mìn, mấy trăm ngàn khẩu AK, mấy ngàn chiếc tăng đủ loại để đem về cày xéo lên các thành phố miền Nam, đốt cháy thôn làng miền Nam và tàn sát nhiều triệu dân miền Nam vô tội.

Tuổi trẻ phải làm gì?

Đứng trước sự phân hóa, chia rẻ do hậu quả của mấy trăm năm phong kiến, đế quốc thực dân và cộng sản, chọn lựa duy nhất của thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay là đoàn kết và vượt qua mọi thử thách để đoàn kết thành một khối đúng như khẩu hiệu “Ta là một” mà các em đang phát động trong nước. Lịch sử như một dòng sông. Dòng sông Việt Nam vẫn chảy dù phải băng qua bao nhiêu ghềnh đá cheo leo. Tương tự, các thế hệ Việt Nam lớn lên và vẫn phải tiếp tục nhận lãnh trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần một ngọn hải đăng của bất cứ cường quốc nào để rọi sáng đêm tối trời dân tộc, nhưng ngay từ trong lòng họ đã bùng cháy lên ngọn đèn tự chủ được thắp sáng bằng tâm thức Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần chờ đợi một minh quân ra đời hay một lãnh tụ xuất hiện để dẫn dắt họ trên đường cứu nước bởi vì chính họ sẽ là những minh quân của thời đại và con đường dẫn đến điểm hẹn lịch sử được soi sáng bằng trí tuệ Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần vay mượn một chủ nghĩa, một ý thức hệ, một lý thuyết ngoại lai nào làm kim chỉ nam để giải phóng dân tộc, bởi vì chính họ đã được trang bị bằng các đặc tính dân tộc, nhân bản và khai phóng kết tinh và kế thừa từ hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Lãnh đạo Đảng đã, đang và chắc sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm để ngăn cản các cuộc biểu tình dù ôn hoà và bất bạo động của tuổi trẻ Việt Nam. Tuần trước họ ra chỉ thị cấm biểu tình, tuần này họ chụp mũ các em chống phá trật tự xã hội, tuần sau họ sẽ đem xe chữa lửa đến đàn áp và tuần sau nữa có thể trục xuất khỏi trường, bắt giam, kết án, tù đày. Tuy nhiên, lịch sử đã nhiều lần chứng minh, khi một chế độ chỉ còn trông cậy vào các phương tiện bạo lực trấn áp để tồn tại, chỉ còn biết sử dụng bộ máy công an kềm kệp để duy trì quyền cai trị, ngày tàn của chế độ đó chỉ là vấn đề thời gian. Hành động tuyệt vọng của Nicolae Ceausescu khi ra lệnh công an bắn vào cuộc biểu tình của nhân dân Rumania sáng ngày 17 tháng 12 năm 1989 chỉ để dẫn đến bản án tử hình dành cho vợ chồng ông ta một tuần sau đó. Lãnh tụ cộng sản Slobodan Milosevic một thời là tổng thống Serbia đầy quyền lực nắm trọn quyền sinh sát trong tay, cuối cùng cũng phải chết trong tù. Erich Honecker hung thần Đông Đức, Idi Amin đao thủ phủ của Uganda hay Mobuto bạo chúa của Congo đều đã gởi tấm thân tàn trên đất khách, để lại tiếng xấu muôn đời. Nếu giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam còn nghĩ đến tương lai của chính họ và còn biết lo cho tương lai của đất nước, họ phải chọn đứng về phía dân tộc.

Con đường duy nhất để đạt đến một tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng là con đường dân tộc và cũng chỉ có một Việt Nam tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng thì các thế hệ Việt Nam mai sau mới có cơ may giành lại được Hoàng Sa và Trường Sa.

Trần Trung Đạo

No Comments

Khong biet cach noi hay la khong biet danh giay bang luoi

December 15th, 2009    Posted in Uncategorized

Lê Diễn Đức – Không “biết cách nói” hay là không biết đánh giày bằng lưỡi

15/12/2009 | 2:00 chiều | 11 phản hồi

Tác giả: Lê Diễn Đức

Chuyên mục: Chính trị – Xã hội, Khủng hoảng đạo đức
Thẻ: > >

LiemGiayAAAA

Bài viết của Nguyễn Hữu Liêm về Đại hội Việt kiều được mọi người chiếu cố, sắp sửa đạt mức kỷ lục trên talawas blog. Và không chỉ trên talawas blog.

Tôi cũng tham gia cuộc luận chiến này bằng ý kiến dưới bài của anh ta trên talawas blog với câu: “Tôi cảm thấy buồn nôn vì tởm lợm”. Tôi nghĩ thế là đủ.

Tôi suy ngẫm, tức anh ách. Nhưng rồi cười khẩy. Hết cười khẩy thì cười bạt mạng!

Những chuyện xót xa, vỡ mộng, té ngửa, tả hoá tam linh của các thế hệ Việt kiều về xây dựng Tổ quốc quê hương xã hội chủ nghĩa, hẳn đến mùa quýt kể cũng không hết. Thế nhưng vẫn chưa đủ làm chiếc gương cho Việt kiều thế hệ sau 1975 soi nhìn lại chính mình.

Nhắc lại vài vụ trong những năm gần đây vậy.

Trần Văn Trường, một Việt kiều “yêu nước” can đảm, dám treo cả cờ đỏ sao vàng và ảnh Hồ Chí Minh tại Orange County, thủ đô của người Việt tị nạn cộng sản ở California. Trong năm 2005 anh ta đã bán tài sản trên đất Mỹ cùng vợ và 2 con trở về Việt Nam làm ăn. Cứ tưởng bở, sẽ được tiếp đón đặc ân như một anh hùng! Anh ta không biết rằng, với giới chức đương quyền, anh ta chẳng có vị gì, thậm chí còn bị cho là ngu ngốc. Muốn làm ăn hả? OK! Nhưng phải biết học luật chơi. Vị “anh hùng” từ miền Bolsa đã quá ư kém cỏi, không thuộc bài. Chia chác, lót tay chưa đủ, không đúng người, đúng chỗ, nên quan chức địa phương ở Lai Vung, Đồng Tháp đã phải dạy cho bài học nhớ đời. Anh ta bị toà án tỉnh phong tỏa hết tài sản và giữ luôn cả số tiền bán cá 1.054.490.000 đồng. Ước mơ “xây dựng quê hương” như một cục đá ném xuống hồ. Chìm nghỉm. Tắt lịm.

Vụ thứ hai khá ồn ào và được người trong nước chú ý nhiều vì liên quan tới cựu hoa hậu Hà Kiều Anh. Trong năm 2005 toà án đã xử phu quân của nàng, Nguyễn Gia Thiều, Việt kiều Pháp, 20 năm tù về tội buôn lậu, trốn thuế, và nộp phạt 130 tỉ đồng.

Điều đáng nói là trong vụ án này có đến 10 bị cáo nguyên là cán bộ hải quan chống hàng lậu, những kẻ xúi giục, tiếp tay cho việc làm ăn của Nguyễn Gia Thiều, nhưng vì không nói chuyện phải quấy đúng nghĩa với thượng cấp nên cùng lãnh đủ.

Hơn nữa, theo tôi biết, vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ, Nguyễn Gia Thiều hoắng huýt, không biết thân phận Việt kiều, chỉ là kẻ lạ, ngoại đạo. Vợ là hoa hậu ư? Sẽ cho thành hoa héo, nói theo ngôn ngữ của các anh chị ăn chơi bậc nhất trong đám CCCC (Con Cháu Các Cụ) mà tôi có nhiều cơ hội tiếp cận. Dám nhảy vào lãnh vực truyền thông ư? Đây là lãnh thổ béo bở, sân chơi với biên độ rất hẹp chỉ dành cho giới elite quyền lực, giống như lãnh vực xuất nhập vũ khí. “Việt kiều là cái đéo gì?” – Một cựu thái tử của triều đại Ba Đình đã nói với tôi như thế – Láo lếu, chết là phải.

Cũng trong năm 2005 vụ án Trịnh Vĩnh Bình sôi động dư luận người Việt trên toàn thế giới, vì bị kiện tới Toà án quốc tế tại Thụy Điển. Ông Việt kiều Hà Lan đã mang về Việt Nam đầu tư khoảng 4 triệu đôla (số tiền rất lớn vào cuối thập kỷ 80, đầu 90). Khi số tài sản của ông Bình lên đến khoảng 20 triệu đôla, thì công an cài bẫy. Ông bị vào tù và tài sản bị cướp trắng. Đám khác trong vụ tranh chấp này mở khoá cửa sau nhà tù cho ông Bình thoát hiểm về lại Hà Lan. Vụ án liên đới tới cả Tổng cục II, Bộ Quốc phòng, dính líu đến cả Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Mạnh Cầm, Phan Văn Khải, Lê Minh Hương. Nghe chừng khó nuốt nổi cục xương trước Toà án quốc tế và để tránh muối mặt trước dư luận, Hà Nội đã tìm cách thoả hiệp chuyện đền bù ông Bình số tiền thiệt hại hơn 100 triệu đôla để chấm dứt tranh tụng.

Thằng bạn học cùng lớp thời phổ thông hiện đang giữ trọng trách trong bộ máy nhà nước ở Hà Nội, gần đây tâm sự với tôi rằng, trong tất cả các đề án đầu tư lớn ở Việt Nam đều phải có người bảo kê, nếu không nguy cơ sập tiệm không biết sẽ đến vào lúc nào.

Người đứng ra bảo kê hoặc là trực tiếp các “đại ca” hoặc đệ tử có quan hệ gần gũi với một trong các “đại ca”, tức là thành viên của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Hắn nói, hầu như ai cũng nhìn thấy sự thối nát, suy đồi đạo đức của công chức nhà nước Việt Nam hiện nay. Trong hàng ngũ đảng viên chỉ khoảng 20% có chức vị là được hưởng đặc quyền, đặc lợi, còn lại có cuộc sống rất bình thường, nếu không nói khó khăn. Cái khó cho sự đổi thay là dù bất mãn, đại bộ phận thụ động ngồi chờ thời của một cuộc cách mạng nào đó, không ai dám làm lính tiên phong, luôn sống trong sợ hãi bị đè bẹp và văn hoá nô lệ. Phần còn lại thì tận dụng thời cơ tranh tối tranh sáng để chụp giật, đầu cơ, vơ vét làm giàu.

Hắn cho tôi biết, chuyện mua quan bán chức ở Việt Nam bây giờ phổ biến, dư luận công khai trên cả diễn đàn Quốc hội. Giá cao nhất là Bộ trưởng Giao thông, 50 tỷ đồng, bởi vì nơi đây tập trung nhiều dự án lớn nhất về xây dựng hạ tầng từ tiền của các quỹ tài trợ phát triển và tiền vay các ngân hàng quốc tế. Tất nhiên không phải có tiền là mua được, tiền phải nộp đã đành, mà còn phải có đủ độ tin cậy để được nộp cả mạng nữa, tức là mày ăn thì phải biết nôn ra cho tao với, ăn hết, bội thực là có ngày chết. Con cái các quan chức được gửi ra nước ngoài học (nhưng rất ít ai gửi con đi Trung Quốc) để tránh xa môi trường đạo đức bị huỷ hoại và nền giáo dục tệ hại (do chính họ gây nên). Không những gửi con học mà họ còn mua luôn nhà cửa cho con ở nước ngoài.

Một môi trường chính trị xã hội nhơ nhuốc dưới sự cai trị độc quyền bởi một băng nhóm lưu manh và mafia đúng nghĩa!

Bản thân người trong cuộc còn ghê tởm, vậy mà, thật hết sức ngạc nhiên, tại sao lại vẫn có những Việt kiều tiếp tục ngu ngốc ngộ nhận.

Thực ra nếu ngộ nhận thật thì họ đáng thương hại hơn là đáng trách. Tiếc thay, đại đa số trong phường giá áo túi cơm này là những tay thích đánh giày bằng lưỡi cho các quan chức cộng sản. Loại người này thuộc loại cơ hội đến mức bẩn thỉu, trong bụng nhiều khi chửi rủa còn ác độc hơn cả những tay được gọi là “phản động” như tôi, nhưng ngoài mặt thì xun xoe, đi bằng đầu gối, bắt tay với lũ ma quỷ trong thời bát nháo để kiếm ăn, mánh mung, chụp giật bất chính.

Trong bài phỏng vấn  hôm 12/12/2009 trên talawas blog, trả lời nhà văn Phạm Thị Hoài, “triết-gia-hụ-còi” Nguyễn Hữu Liêm nói:

Tôi đã từng về nước và gặp nhiều nhân vật trong chính quyền và Đảng, từ Tổng Bí thư xuống cấp xã, và đã từng phân tích, đề nghị thay đổi, bằng lời nói và văn bản, về những chính sách, quy chế. Có lần tôi nói chuyện với ông Đỗ Mười, lúc ông đang là Tổng Bí thư, tại trụ sở Trung ương Đảng ở Hà Nội. Thời gian tôi được gặp chỉ 20 phút, nhưng tôi và ông đã bàn luận nhiều vấn đề đến hơn 1 giờ 30 phút. Nhiều lúc tôi và ông tranh luận, đến độ ông đã cầm tay tôi đè xuống và nói, “Anh phải để tôi nói…” Người cộng sản sẽ lắng nghe, nếu chúng ta biết cách nói”.

Tôi không cắt nghĩa nổi “biết cách nói” theo “triết-gia-hụ-còi” Nguyễn Hữu Liêm là làm sao.

Nhà văn Phạm Thị Hoài đã phản biện bằng các câu hỏi tương phản qua những con người cụ thể rồi. Tôi không muốn nhắc lại. Chỉ nêu vụ bauxite gần nhất đây.

Đại tướng công thần lập quốc như Võ Nguyên Giáp, các trí thức-đại biểu Quốc hội, như Dương Trung Quốc, Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Minh Thuyết, rồi hàng ngàn các trí thức khác trong và ngoài nước ký tên kiến nghị hợp tình, hợp đạo lý trong thư thỉnh nguyện của giáo sư Nguyễn Huệ Chi – có phải là họ là những trí thức không “biết cách nói” không.

Cứ nghĩ gặp được Đỗ Mười, Tổng Bí thư, là tưởng mình đã bước vào được hậu cung để trở thành mưu sĩ bàn việc nước!

Tôi biết một cựu Việt kiều Nga, doanh nghiệp thứ thiệt, tầm cỡ đại bàng, về nước ra vào các biệt thự ở khu Ba Đình dễ như thò tay vào túi lấy đồ vật. Đó là Lê Ngọc Hường, sinh năm 1960, một trong các ông chủ chợ Vòm ở Moscow, Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Nga, Phó chủ tịch Hiệp hội các nhà doanh nghiệp Việt Nam tại LB Nga, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam tại Liên bang Nga, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn TTTM Quốc tế Moscow. Ngày 31/03/2009, Toà đại sứ Việt Nam ở Moscow đăng tin chia buồn sâu sắc cái chết của anh ta vì bệnh nặng. Thông tin về cái chết có nhiều mâu thuẫn. Có người nói anh ta bị bắn chết với 16 phát đạn. Sinh thời, anh ta khoái khẩu, tự mãn với tấm ảnh to tổ bố, chụp với cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu được đóng khung trang trọng, treo trong phòng làm việc. Đã có lần tôi nói, chụp với những thằng cha này là tự hạ thấp mình. Thế nhưng bài này của các nhà doanh nghiệp Việt kiều dọa được khối thằng!

Đỗ Mười nổi tiếng dốt nát và tham quan. Công ty Hàn quốc tặng chơi một triệu đôla tiền mặt trong một chuyến công du là vì cái gì? Có thánh biết! Còn khoản được chuyển vào các trương mục thì bao nhiêu?

Chính sách hợp tác hoá và cải tạo công thương nghiệp miền Nam sau năm 1975 của ông ta đã làm dân miền Nam gần chết đói, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi. Con rể ông ta, Phương “Phò mã” làm ăn phát đạt với những mối lợi độc quyền, như cỗ dọn sẵn, chỉ ngồi thu tiền.

Mà rồi từ ngày nghe “triết-gia-hụ-còi” Nguyễn Hữu Liêm diễn thuyết đã có cái gì lọt tai ông ta? Hay là càng tuổi cao càng đổ đốn, mất tư cách đạo đức, già khú đế còn dâm đãng, sờ mó lung tung ôsin thế nào mà bị cô ta bắt phải lấy làm vợ.

Trong một bài gần đây trên BBC (ngày 9/12/2009) viết về giáo sư toán học nổi tiếng Ngô Bảo Châu, người vừa được tạp chí Time của Mỹ bình chọn có công trình khoa học là một trong 10 phát minh tiêu biểu của thế giới năm 2009.

Trong bài có đoạn:

Mặc dù làm việc ở nước ngoài trong suốt nhiều năm qua, Giáo sư Châu, người từng được mời làm Giáo sư tại Pháp khi mới 32 tuổi, vẫn theo dõi sát tình hình phát triển ở Việt Nam.

Ông cho biết đã hơn nửa năm, bức thư của ông ngày 29/5 từ Mỹ, gửi Quốc hội Việt Nam, kiến nghị về dự án Bauxite vẫn chưa nhận được câu trả lời.

Trong bức thư gửi Quốc hội Việt Nam, ông Châu đề cập tới chính sách mà ông gọi là “thực dân mới” của chính quyền Trung Quốc liên quan tới khai thác khoáng sản trên quy mô toàn cầu và cảnh báo về dự án Bauxite tại Tây Nguyên: “phần có hại thì cầm chắc, phần có lợi thì mong manh”.

Cứ như “triết-gia-hụ-còi” Nguyễn Hữu Liêm thì giáo sư trẻ này chắc cũng không “biết cách nói” nốt.

Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười hay Đỗ Mười Một, ông nào cũng thế thôi. Các “đại ca” này chỉ nghe những người họ thích nghe. Đừng ảo tưởng! Đến khi phải bỏ của chạy mất dép, cứu lấy mạng thì mới trắng mắt ra!

Trên talawas blog có lần tôi đã nhắc lại câu của ông Chu Đình Xương, Giám đốc Sở Liêm phóng (Công an) Hà Nội đầu tiên thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một người có quan hệ rất gần với Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, đi theo cách mạng từ những năm 30 của thế kỷ trước. Ông Chu Đình Xương là thân phụ của giáo sư Chu Hảo trong nhóm IDS vừa tự giải tán. Ông đã từng căn dặn con cháu trong nhà (trong đó có tôi): “Các con ạ, đừng bao giờ chơi với cộng sản, chúng nó bạc như vôi!”

Anh hùng lực lượng vũ trang Phạm Xuân Ẩn, tình báo viên thượng thặng, người có công lớn với chính quyền cộng sản trong việc giành được toàn quyền cai trị Việt Nam năm 1975, về cuối đời đã sống trong thất vọng, cay đắng và có người viết rằng, trước khi chết (năm 2006) ông trăn trối: “Đừng bao giờ chôn gần những người cộng sản”.

Tiếc thay vẫn còn lắm kẻ mơ muội lao vào trận đồ bát quái, tráo trở, lá mặt lá trái và vô ơn bội nghĩa này của những tay mafia đội lốt cộng sản thời nay.

Tôi hoàn toàn tôn trọng và cảm thông với tất cả những ai có nguyện vọng trở về thăm quê hương, thậm chí làm ăn hoặc ở lại sống hẳn. Mỗi người có một hoàn cảnh sống riêng và có quyền tự do lựa chọn cho mình một cách mưu sinh.

Thế nhưng, đã phải chịu bao nhiêu hiểm nguy bỏ nước ra đi và qua 35 năm trải nghiệm, sống trong những đất nước đã cưu mang mình, đã cho mình cơ hội trưởng thành, đã hiểu thế nào là giá trị dân chủ, nhân quyền, đã chứng kiến sự phá sản của khối cộng sản châu Âu – khi về Việt Nam, nếu không làm được gì cho tiến trình dân chủ của đất nước, tốt nhất, muốn yên phận, ăn chơi, kiếm tiền thì đừng ăn nói linh tinh. Một Nguyễn Cao Kỳ, một Phạm Duy là đã quá đủ, quá ê chề, ngán ngẩm rồi! Đừng bao giờ đánh mất nhân cách và quan điểm chính trị đúng đắn trong cuộc tranh đấu chống lại chế độ toàn trị đang bán rẻ quyền lợi của đất nước cho ngoại bang, chà đạp lên các quyền tự do cơ bản nhất của dân tộc Việt.

Nhất là với người trí thức. Bởi vì “với người trí thức, chính trị là sự lựa chọn đạo đức” – Adam Michnik, nhà dân chủ đối lập của Ba Lan thời cộng sản đã nói như thế. Và ông nói chính xác.

Những chiếc giày của các ông chủ Ba Đình sẽ chẳng bóng lên bằng nước miếng và cái lưỡi của những tên xu nịnh. Hãy coi chừng, nếu không muốn bị đá giày vào mõm. ■

© talawas blog

No Comments

Viet Nam da chuan bi chien tranh-Trung Quoc con cho doi dieu gi

December 15th, 2009    Posted in Uncategorized

Việt Nam đã chuẩn bị chiến tranh, Trung Quốc còn chờ đợi điều gì?

Hoàng Sa – Trường Sa

 

View all articles by Hoàng Sa – Trường Sa

HS-TS dịch từ nguồn Sina

Đây là tiêu đề của một bài Viết được đăng lên diễn đàn Sina vào tối hôm qua ( 27 tháng 8 ) tức là lập tức ngay sau khi thứ trưởng bộ ngoại giao Việt Nam đã có một phát biểu cứng rắn hợp lí khẳng định chủ quyền hợp pháp đối với các dự án dầu khí hợp tác với nước ngoài.   
 
Mặc dù mạng sina không phải là trang báo chính thức của chính phủ Trung Quốc, nhưng trang này vẫn phải thông qua kiểm duyệt và chính phủ TQ gián tiếp gửi thông điệp qua đây, vì thế các bài viết thường là của những người có khả năng và trình độ nhất định, sau đây là toàn bộ nội dung bài viết này do Hoàng Sa Trường Sa dịch:
 
Hiện nay sau những thông tin về việc công ty dầu khí Exxon Mobil của Hoa Kỳ và Việt Nam ký hiệp định về thăm dò dầu khí được truyền ra ngoài, khiến cho bộ ngoại giao Trung Quốc rất quan ngại, người phát ngôn bộ ngoại giao Việt Nam khẳng định ” các hiệp định được kí đều nằm trong chủ quyền của Việt Nam “. Về sau thậm chí có trang mạng của Việt Nam còn xuất hiện những luận điệu cứng rắn cái gọi là ” không ngại một cuộc chiến tranh “.
 
CHUẨN BỊ SẴN SÀNG
 
Những luận điệu cứng rắn của Việt Nam dựa vào những tiềm lực quân sự trọng yếu tại Nam Sa ( tức Trường Sa ), quân đội Việt Nam đã tăng cường điều chỉnh bố trí lực lượng, ý đồ là tiến thêm một bước khống chế 29 đảo và vùng biển phụ cận Trường Sa mà đã phi pháp chiếm đóng.

Chiếm đoạt và khống chế Trường Sa thành quyết tâm của quân đội Việt Nam

 


Địa thế của Việt Nam từ bán đảo Trung Nam khu vực Đông bộ trải về hai phía Nam, Bắc hình thành địa hình chật hẹp chữ ” S “.
  Sau một thời gian dài đến nay, quân đội Việt Nam đã vận dụng chiến lược ” Bắc phòng Nam tấn ” làm trọng điểm, dồn lực phát triển lục quân, tập trung quân lực phía Bắc Bộ, hải quân và không quân ở đây xây dựng tương đối lạc hậu. Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 9 đề xuất ” chiến lược phát triển biển ” ý đồ hướng về biển phát triển, trở thành một ” cường quốc hải dương ( biển ) ” Vì thế mà chiến lược quân sự của quân đội nhân dân Việt Nam cũng được điều chỉnh thành ” lục địa phòng thủ hải quân tiến công “ hướng về Nam Hải ( tức Biển Đông ), đặc biệt là dã tâm chuẩn bị tốt về quân sự nhằm “ chiếm đoạt và khống chế các đảo ở Trường Sa, Việt Nam đã đầu tư mạnh vào Hải quân và không quân, điều chỉnh các căn cứ theo chiều sâu kiến thiết trận tuyến địa Trường Sa, hình thành hệ thống kiến trúc trận địa Trường Sa 3 đại trụ cột.

 


Hiện nay tổng binh lực của hải quân Việt Nam ước tính đạt tới 55, 000 người, phân thành 4 khu vực bộ tư lệnh hải quân 1, 3, 4, 5 trong đó


Bộ tư lệnh hải quân vùng 1 đặt tại Hải Phòng, quản lữ đoàn tầu chiến 170, lữ đoàn lục chiến 147.

Bộ tư lệnh hải quân vùng 3 đặt tại Đà Nẵng quản lữ đoàn tầu chiến 161,

Bộ tư lệnh hải quân vùng 4 đặt tại Vũng Tầu quản lữ đoàn tầu chiến 171, đoàn cảnh giới 103,

Bộ tư lệnh quân khu vùng 5 đặt tại Rạch Giá quản lí lữ đoàn tầu chiến 175 , đoàn lục chiến 126.

Tổng cộng các loại tầu chiến khoảng hơn 300 chiếc, các tầu chiến chủ chiến bao gồm các tầu hộ vệ 7 chiếc, tầu quét ngư lôi 5 chiếc, tầu đổ bộ 6 chiếc, các loại tầu phóng ngư lôi và tầu phóng hoả tiển hơn 40 chiếc, tầu đổ bộ cỡ nhỏ hơn 30 chiếc, 2 chiếc tầu ngầm Mini.

Tổng binh lực của không quân Việt Nam khoảng 30, 000 người, quản lí 4 hàng không sư, 13 đoàn phi hành ( 5 đoàn chiến đấu cơ, 3 đoàn vận tải cơ, 3 đoàn huấn luyện cơ, 2 đoàn tăng cường lục chiến cơ ), có các loại máy bay Su – 27, Su – 30 và Mic – 23, Mic – 21 và nhiều loại khác tổng số hơn 480 chiếc, bộ đội phòng không quản lí 17 binh đoàn hoả tiển , 7 binh đoàn pháo cao xạ, 6 đoàn Rada, có các thiết bị cảnh giới trên không và Rada khoảng hơn 1000 bộ.

Lợi dụng các đảo chiếm được làm căn cứ tiền tuyến

Nhằm mục đích thay đổi bố trí trận địa trước đây là ” Coi trọng phía Bắc, lớn ở phía Nam, gọn nhẹ ở giữa “ quân đội Việt Nam đã đầu tư lớn xây dựng các căn cứ quân sự hướng về Biển Đông bao gồm 11 căn cứ hải quân: Vạn Hóa, Cẩm Phả, Hồng Gai, Hà Tiên, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Rạch Giá, Cam Ranh, TP Hồ Chí Minh, Quy Nhơn. 15 căn cứ không quân bao gồm: Nội Bài, Yên Bái, Hòa Lạc, Kiến An, Thọ Xuân, Đà Nẵng, Phú Cát, Phan Rang, Biên Hòa, Tân Sân Nhất, Tuy Hòa, Cam Ranh, Chu Lai… với dã tâm kết hợp vững chắc hải không quân.

TRƯỜNG SA NAM YẾT

Đồng thời quân đội Việt Nam gấp rút tiến hành xây dựng trận tuyến mạng nhện trên các đảo chiếm được, các đảo này đóng vài chục cho đến vài trăm quân, Năm 2004, 2005, hoàn thành việc xây cất sân bay trên hai đảo Nam Yết và Trường Sa lớn, nhờ vậy mà không quân Việt Nam có được chỗ hạ cất cánh tiên tiến tại Trường Sa. Một khối lượng lớn vũ khí và đạn dược được thông qua ” hành lang trên không ” không ngừng chuyển đến Trường Sa.

Đặc công trên nước quấy rối các tầu thăm dò Trung Quốc

Nhằm tăng cường khả năng tác chiến với ” một quốc gia nào đó ” Quân đội Việt Nam mấy năm trở lại đây đã đề xuất cái gọi là ” thò ba đại cánh tay sắt ” tức là kết hợp uy lực lớn của các tầu phóng hỏa tiễn với lực lượng máy bay chiến đấu tầm xa, cùng lực lượng đặc công trên nước tác chiến. Ý đồ nhằm dùng nhỏ khắc chế lớn, dùng ưu thế bất đối xứng tấn công.

Dựa vào việc Việt Nam mua 4 tầu phóng ngư lôi cỡ lớn, có trang bị hoả tiển  tầm trung từ Nga, và dựa vào Việc năm 2007 Việt Nam – Nga kí hiệp định cho phép Việt Nam sử dụng kĩ thuật của Nga xây dựng nhà máy đóng tầu chiến ở trong nước, chế tạo 10 tầu chiến cao tốc ” tia chớp ” trang bị hoả tiển

Năm 2009 Nga sẽ còn bàn giao cho Việt Nam hai khu trục hạm trị giá 350 triệu đô la, với những trang thiết bị hiện đại nhất hiện nay, có thể tàng hình, tấn công từ xa…đã cho thấy quần đảo Trường Sa bị hải quân Việt Nam đặc biệt coi trọng, và dựa vào những hoàn cảnh phức tạp tại đây để lợi dụng ” dùng nhỏ uy hiếp lớn “.

Dựa vào việc Việt Nam trang bị các máy bay chiến đấu tầm xa tối tân ( 13 chiếc Su – 27 và 4 chiếc Su – 30 ), quân đội Việt Nam đang tập chung sức chiến đấu tại khu vực tranh chấp vùng biển Trường Sa, tiêu tốn 3,8 tỉ đô la Mỹ để mua 17 chiếc máy bay chiến đấu tiên tiến toàn bộ được đặt ở căn cứ không quân Phan Rang, hình thành bán kính vượt qua 1500Km, phủ rộng toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa tăng cường năng lực không – hải tác chiến. Theo tìm hiểu trong vài năm nữa Việt Nam sẽ tiếp tục đầu tư mua thêm nhiều máy bay chiến đấu Su – 27, Su – 30 và nhiều loại chiến đấu cơ tối tân nữa.

 
 SU-27
 
 SU-30


Những binh chủng đặc biệt tác chiến trên biển đó là ” truyền thống ” của quân đội Việt Nam . Hiện nay tổng binh lực của lực lượng hải quân lục chiến của Việt Nam ước trừng khoảng 27 000 người quản lí lữ đoàn lục chiến 126, 147 binh đoàn đặc công nước 861 và một số binh chủng đặc biệt khác. ” Tổng công ty khác thác hải sản Biển Đông ” vốn thuộc công ty 128, 129, ( nguyên là thuộc lực lượng vũ trang ) cũng có những nhiệm vụ tác chiến đặc biệt.

Để tăng cường thực tế khống chế Trường Sa, Việt Nam đã đưa vào huấn luyện, cả người nhái bí mật, tấn công chiếm đóng tầng cao, đặt thuỷ lôi, chi viện Trường Sa khi tác chiến làm trọng điểm. Trong lúc hải quân Việt Nam giám sát các tầu thăm dò của Trung Quốc, trong các hoạt động gây nhiễu có thể nhìn thấy ẩn hiện bộ đội đặc công Việt Nam trên mặt nước.

Do các đảo ở Trường Sa không thể cố định đề phòng các tầu chiến,nhiệm vụ hải quân Việt Nam tuần tra trong vùng biển Trường Sa thông thường bao gồm hàng trăm các tầu cá vũ trang đảm nhiệm.

Nói hoảng khi cho rằng ” vì thế vận hội ” nên Trung Quốc ” chịu nhịn “

Trong lúc tích cực chuẩn bị chiến tranh thì Việt Nam vẫn xử dụng chiêu bài ” Hợp tung liêm hoành ” , ý đồ mượn các thế lực bên ngoài để tiếp tục chiếm đóng các đảo Trường Sa, ở phương diện thứ nhất: về chính trị thì hợp tác liên minh với các nước ASEAN, đề cao lập trường nhất trí của các nước đối với Trung Quốc, đặc biệt là tăng cường hợp tác với Phillipin và Malayxia, một mặt khác Việt Nam lại kêu gọi nước ngoài đầu tư vào hợp tác khai thác dầu khí, ý đồ lôi kéo Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ .. và một số nước khác vào Trường Sa, khiến cho vấn đề Trường Sa bị Quốc tế hóa, đồng thời từng bước tăng cường hợp tác giao lưu quân sự với các nước Mỹ, Ấn, Nhật… đề cao vị thế của Việt Nam là một nước lớn trong khu vực.

Như năm 2003, 2004, 2005 chiến hạm của Hoa Kỳ liên tục thăm viếng Việt Nam, tháng 7 năm 2007 hai bên Việt – Ấn ký hiệp định quốc phòng song phương, xác lập từ nay về sau Ấn Độ ưu tiên bán cho Việt Nam các trang bi quân sự trong đó có cả hoả tiển  đạn đạo ” Bulamobs ” Ấn Độ còn giúp Việt Nam nâng cấp các máy bay chiến đấu Mig – 21 đã quá hạn đồng thời cũng phụ trách huấn luyện các phi công Việt Nam lái chiến đấu cơ Su – 30. Tháng 3 năm 2008, 2 tầu hộ vệ của Nhật Bản cũng đã viếng thăm thành phố Hồ Chí Minh và cùng hải quân Việt Nam tiếp hành liên hiệp diễn tập.

Lần này Việt Nam đã cùng với công ty dầu khí quốc gia Mỹ Exxon tiếp ký hiệp định hợp tác dầu khí trong vùng biển tranh chấp Trường Sa, khi phán đoán rằng Trung Quốc trong một thời gian dài sau thế vận hội Bắc Kinh sẽ không có hành động cứng rắn nào trong khu vực vùng biển Trường Sa, công nhiên xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc. Việc phán đoán sai lầm này không chỉ bất lợi với cục diện ổn định ở Trường Sa, đồng thời cũng tổn hại đến bản thân của nền an ninh và phát triển của Việt Nam trong thời gian dài sau này.


Nguồn: http://en.wikipedia .org/wiki/Sina.com
No Comments

Trung Quoc va Bien dong

December 15th, 2009    Posted in Uncategorized

Mạng Trung Quốc và Biển Đông

Dương Danh Dy

sưu tầm và giới thiệu

 

Trong thời gian gần đây số dân mạng Trung Quốc tăng nhanh như vũ bão.

Nếu cuối năm 2006 Trung Quốc mới có 137 triệu dân mạng thì đến cuối năm 2008 con số đó đã là 298 triệu và đến tháng 6 năm 2009 dân mạng Trung Quốc đã đạt khoảng 338 triệu người.

Dân mạng phần lớn là thanh niên và tráng niên, chỉ cần 10-30% số dân mạng bị huyễn hoặc là đã có từ vài chục triệu người đến trăm triệu người.

Mạng Milchina.com ngày 26/02/09 và Nam phương chu mạt số đặc biệt tháng 02/2009 có một số nhận định sau:

“Hiện nay ngoài 7 đảo (bãi đá ngầm) do Trung Quốc khống chế và đảo Ba Bình (Trung Quốc gọi là Thái Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa) do Đài Loan đóng giữ ra, tổng cộng có 42 đảo (bãi đá ngầm) bị các quốc gia khác chiếm đóng.

Đã hình thành cục diện vũ trang cát cứ chiếm đóng quân sự “4 nước 5 bên” và có xu thế kéo dài.

Trong tranh cướp Trường Sa (Nam Sa), Việt Nam thể hiện tích cực hơn, có qui hoạch, đã phân chia lãnh hải Trường Sa thành hơn một trăm vùng đấu thầu dầu khí.

Mấy năm gần đây Việt Nam không ngừng cùng các nước Mỹ, Nga, Pháp, Anh, Đức v.v. không ngừng ký hợp đồng thăm dò dầu khí, ý đồ nhấn mạnh sự chiếm hữu thực tế đối với Trường Sa.

Chỉ nửa đầu năm 2006, Tổng Công ty dầu khí Việt Nam đã khai thác 12,37 triệu tấn dầu khí, trong đó 8,6 triệu tấn dầu thô và 3,765 tỷ m3 khí, xuất khẩu đạt 4,14 tỷ USD.

Các học giả trong nước nói chung cho rằng Việt Nam là đối thủ nguy hiểm nhất và cũng là khó giải quyết nhất trong tranh chấp với Trung Quốc tại Trường Sa.

Một bước đi quan trọng trong việc tranh cướp Trường Sa với Trung Quốc là vào năm 2004, quân đội Việt Nam đã sửa lại một sân bay quân sự cũ trên quần đảo Trường Sa, sân bay này có thể dùng cho máy bay chở khách loại trung và được rêu rao là sẽ sử dụng cho khách du lịch.

Trên thực tế Việt Nam là quốc gia duy nhất đề xuất có chủ quyền toàn bộ với quần đảo Trường Sa và cũng là kẻ được lợi lớn nhất trong cuộc tranh giành Trường Sa, có dã tâm lớn nhất, và cũng tạo thành uy hiếp lớn nhất đối với Trung Quốc.

Ở miền tây Trường Sa, Việt Nam đóng 1 tiểu đoàn 600 quân và thiết lập Bộ chỉ huy trên đảo Trường Sa (Nam Uy)

Khu vực chiếm đóng của Việt Nam trên Trường Sa đã hình thành một vùng chuỗi đảo, từ đảo Song Tử Tây (Nam Tử) đến đảo An Bang (An Bà Sa Châu) dài khoảng 230 hải lý, trong đó tại 29 đảo có quân đội đóng giữ.

Có tin, hải quân Việt Nam đang đóng 30-40 chiến hạm, đồng thời chuẩn bị đầu tư 3,8 tỷ USD xây dựng một quân cảng lớn tại vùng Đông bắc, thay thế một loạt rada cảnh giới tầm xa nhằm tăng cường lực giám sát khống chế vùng lãnh hải nam Biển Đông của Trung Quốc.

Ngoài ra Nga còn cung cấp cho Việt Nam kỹ thuật chi tiết sản xuất tên lửa chống hạm tầu tốc độ siêu âm kiểu SS-N-26, đây là loại tên lửa chống hạm tầu tiên tiến nhất của Nga.

Các trang mạng này cũng điểm qua hiện diện của một số bên khác như Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Đài Loan tại Biển Đông để rồi kết luận: Trung quốc phải chuẩn bị “mềm rắn cùng thi hành, tiên lễ hậu binh”. Khi lễ không có hiệu quả thì phải dùng binh, nhưng binh không phải chỉ là đánh nhau mà còn chỉ vận dụng sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Các học giả trong nước nói chung cho rằng Việt Nam là đối thủ nguy hiểm nhất và cũng là khó giải quyết nhất trong tranh chấp với Trung Quốc tại Trường Sa.

Có thể dự đoán, trong tương lai tại Trường Sa, Việt Nam sẽ không ngừng hành động gặm nhấm tài nguyên, củng cố những nơi đã chiếm đóng trong đó ý đồ quốc tế hóa của họ không mất, tình hình quần đảo Trường Sa còn rất phức tạp.

Các trang mạng khác

- “Muốn giải quyết vấn đề Nam hải (Biển Đông), Trung Quốc phải đoạt trọn Việt Nam – Việt Nam đừng liều lĩnh. Nam Sa (Trường Sa) chỉ là cái cớ để xuất quân, đoạt được miền Nam Việt Nam mới là việc quan trọng nhất! Hạ được Việt Nam là có thể khống chế được Đông Nam Á” (nguồn Luận đàn 29/07/2008).

- “Việt Nam đáng cảnh giác, trong tranh chấp Nam hải (Biển Đông) tích cực nhất là làm nhiều nói ít” (Trung Quân võng ngày 06/50/09).

- “Việt Nam quyết ý chống Trung Quốc: mua tầu ngầm Nga, tham quan hàng không mẫu hạm Mỹ” (milchina.com ngày 09/05/09).

- “Việt Nam rất tức giận, hậu quả nghiêm trọng! Trung Quốc là chàng câm ăn phải hoàng liên!”(Trung Quân võng ngày 22/05/09)

- “Việt Nam ăn sống Trung Quốc, chuẩn bị chiếm thêm mấy đảo nữa của Trung Quốc” (milchina.com ngày 23/05/09)

- “Thu hồi các đảo bãi đá ngầm bắc quần đảo Nam Sa(Trường Sa), xây dựng nhóm hàng không mẫu hạm không chìm của Trung Quốc (đáng chú ý: bài viết phân tích và đưa ra nhiều số liệu vê vị trí địa lý…của một số đảo trên quần đảo Trường Sa mà Việt Nam, Philippines… đang chiếm giữ)

- “Trung Quốc cứng rắn ra lệnh ngừng đánh cá đã 12 ngày mà không có ai dám trái ý Trung Quốc”, “Chỉ cần Trung Quốc đằng hắng một cái là các nước nhỏ Đông Nam Á sợ ”( Trung Quân võng ngày 25/05/09)

- “Tin tức tốt: kế hoạch quân sự của Trung Quốc đả kích Việt Nam đã từng bước thực hiện”(bài viết cho biết đã có lý để ra quân và dự đoán chiến tranh sẽ xảy ra trước sau năm 2013)

- “Hai bờ nhất trí đối ngoại: Chủ quyền Tây Sa (Hoàng Sa) không có việc cho người Việt Nam”( Trung Quốc và Đài Loan nhất trí).

- Ngày 5/7/09, “Hoàn cầu thời báo” Trung Quốc đưa tin: “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Nam hải (Biển Đông)”

- Ngày 11 tháng 12 năm 2009, mạng Trung Hoa võng(China.com) đăng hai bài “Chính sách Việt Nam điều chỉnh gấp-Chuẩn bị lực lượng giành lấy Nam hải (Biển Đông) và “Tranh chấp ở Nam Hải (Biển Đông) có xu thế ngày càng phức tạp dùng vũ lực để thu hồi đã thành sự lựa chọn duy nhất” với dã tâm hừng hực và tính toán mọi bề, mũi nhọn dường như muốn chĩa thẳng vào Việt Nam.

* Một câu hỏi không thể không đặt ra sau khi đọc các thông tin trên: sắp tới Trung Quốc có thể làm gì tại Biển Đông?

No Comments

Loạt bài theo dỏi tình hình Biển Đông

December 5th, 2009    Posted in Uncategorized

Mạng Hoàn Cầu viết gì về Biển

Dương Danh Dy

Nhà nghiên cứu Trung Quốc

(Theo BBC )

 

Hải quân Trung Quốc

Trước tiên xin phép được nói đôi lời về nguồn gốc của mạng Hoàn Cầu (huan qiu wang-环球网- http://www.huanqiu.com).

Có thể nói mẹ đẻ của mạng này là tờ Hoàn cầu thời báo.

Tờ này do Nhân Dân nhật báo – cơ quan của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trì, ra số đầu tiên ngày 3/1/1993 với tên gọi là tạp chí Hoàn Cầu văn túy, đến năm 1997 mới đổi tên là Hoàn cầu thời báo, từ tháng 1/2006 ra hàng ngày (từ thứ Hai đến thứ Sáu).

Hoàn Cầu thời báo là tờ báo quốc tế có uy tín tại Trung Quốc, lượng phát hành mỗi số là 1,6 triệu bản. Báo có phóng viên tại 65 nước trên thế giới.

Mạng Hoàn cầu đưa lại tin của báo mẹ và đăng lại nhiều tin của các báo và mạng chính thức có tên tuổi trên khắp Trung Quốc và thế giới.

Số bài và tin liên quan đến Biển Đông, mạng Hoàn Cầu đưa khá đều và khá nhiều.

Để tránh trùng lặp, chúng tôi chỉ giới thiệu những ý chính, mới của họ từ tháng 3/2009 đến gần đây, và chỉ dịch tên đầu bài vì nếu giới thiệu hết sẽ rất dài. Hơn nữa chỉ cần đọc tên bài, bạn đọc cũng có thể hiểu được họ định nói gì.

Chủ đề Biển Đông

Dưới đây là một số tên bài thu thập được trên mạng Hoàn Cầu tiếng Trung được dịch ra tiếng Việt

- “Biển Đông, biển phức tạp nhất thế giới” (18/3/2009)

- “Chuyên gia bàn vấn đề Biển Đông: thành ý hòa bình của Trung Quốc bị các nước xung quanh lợi dụng” (18/3/2009)

- “Biển Nhật Bản, Biển Đông, Trung Quốc giải quyết vấn đề nào trước thì tốt” (1/4/2009)

- “Chuyên gia quân sự: dựa vào sự hiển thị “cơ bắp” giải quyết vấn đề Biển Đông không được đâu” (28/4/2009)

- “Nguyện vọng lương thiện không thể bị lợi dụng.Giải quyết vấn đề Biển Đông cần tư duy mới” (23/5/2009)

- “Không thể để mất lãnh hải” đưa lại bài của mạng Trung quốc tân văn ngày 27/5/2009

- “Vấn đề Biển Đông, vì sao Quân Giải phóng không chọn phương thức giải quyết trên bộ?” (30/6/2009)

- “Vấn đề Biển Đông cuối cùng nước Mỹ đã nhảy ra trước sân khấu” (1/7/2009)

- “Trung quốc phải sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (3/7/2009)

- “Dân mạng Trung Quốc tán thành trên vấn đề Biển Đông phải cứng rắn hơn nữa” 4/7/2009 đưa lại tin của mạng Nhân Dân

- “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (5/7/2009)

- “Quân Giải phóng giải quyết bằng vũ lực vấn đề Biển Đông, nước Mỹ không có khả năng trực tiếp tham chiến” (16/7/2009)

- “Quan điểm của phái phản đối: vấn đề Biển Đông cần giải quyết nhanh, càng kéo dài càng chết” (5/8/2009)

- “Cuộc chiến ở Biển Đông: năm nguyên nhân lớn khiến Trung Quốc nên đánh cho Việt Nam lụn bại” (18/8/2009)

- “Nghị sĩ Mỹ thăm Việt Nam nói ủng hộ lập trường của Việt Nam tại Biển Đông” (22/8/2009)

- “Trung Quốc không giải quyết xong vấn đề Biển Đông thì đừng nghĩ đến việc thu hồi vùng Tạng Nam(vùng đất Trung Quốc đang tranh chấp với Ấn Độ) (27/8/2009)

- “Túi khôn Mỹ: Trung Quốc không thể chỉ dựa một mình sức mạnh mềm giải quyết vấn đề Biển Đông” (26/8/2009)

- “Trung Quốc không thể lại để mất thời cơ lớn để giải quyết triệt để vấn đề Biển Đông” (7/9/2009)

- “Xâm chiếm các đảo của ta, quân Việt Nam đã có thế hệ thứ hai. Giải quyết vấn đề Biển Đông không thể chậm được nữa” (8/9/2009)

- “Vấn đề Biển Đông khó giải quyết, Mỹ phải chịu trách nhiệm” (26/10/2009)

- “Trung tướng Quân Giải phóng nói dữ dằn: “đã chuẩn bị đánh ở Biển Đông rồi” (27/10/2009)

- “Truyền thông Anh: Việt Nam có ý đồ quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” đưa lại tin của BBC ngày 26/11/2009

- “Âm mưu mới của Việt Nam tại Biển Đông, muốn quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” (29/11/2009)

- “Mưu cầu quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, Việt Nam mời “hòa thượng Tây” đọc kinh” (30/11/2009)

Ghi chú quan trọng: Ngoài mạng Hoàn cầu, nhiều mạng chính thức khác của Trung Quốc như “Trung Hoa võng, Trung Quân võng, Trung Tân võng, Thiết huyết luận đàn, Nhân Dân võng v.v..cũng đều đưa tin về Biển Đông theo lập trường, quan điểm của nước họ

No Comments