Tổ Quốc Trên Hết

March 9th, 2010    Posted in Uncategorized
Nguồn: myopera.com 

Xin bắt đầu bài viết này bằng lời di chúc của vị vua anh minh Trần Nhân Tôn: “Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ tự cho mình cái quyền nói một đằng, làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra nơi biên ải, các chuyện đó khiến ta nghĩ đến những chuyện khác lớn hơn, tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra cái cớ tranh chấp, không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta. Dần dần họ sẽ biến giang sơn của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn: một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ này như một lời di chúc cho muôn đời con cháu”.

Thật đau buồn khi những lời di chúc đầy tinh thần dân tộc này của vị vua Trần Nhân Tôn, ngày nay đã bị quên lãng dần trong lòng dân tộc, nhất là hầu hết học sinh, sinh viên dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa do Đảng CSVN lãnh đạo cũng hoàn toàn xa lạ với những công lao to lớn của tiền nhân. Thật vậy, vì luôn luôn đặt quyền lợi của Tổ quốc, quyền lợi của dân tộc lên trên hết cho nên, vua Trần Nhân Tôn đã mở ra hội nghị Diên Hồng để lấy ý kiến nên hòa hay đánh của toàn dân trước ngoại xâm. Cuối cùng với tinh thần đoàn kết và thống nhất được ý chí dân tộc mà nhà vua đã đánh bại hoàn toàn giặc Tàu xâm lược.

Nhìn lại lịch sử VN từ xưa đến nay, chưa có một triều đại nào cam tâm dâng đất, dâng biển của đất nước cho ngoại bang TQ như triều đại của ĐCSVN hiện nay. Lịch sử cũng như ngay cả ĐCSVN vẫn thường lên án Lê Chiêu Thống là cổng rắn cắn gà nhà. Nhưng dưới thời Lê Chiêu Thống cai trị đất nước, lãnh thổ VN vẫn được bảo toàn không bị mất dù chỉ một tấc đất. Trong thời đại thông tin rộng mở như bây giờ, từng sự thật về những hành động của các nhà lãnh đạo CSVN đối với Tổ quốc và nhân dân ngày càng được phơi bày ra ánh sáng cho, dù đảng đã dùng mọi thủ đoạn để bưng bít thông tin. Mục đích của bài viết này là cũng chỉ muốn đưa ra những sự thật trong muôn ngàn sự thật mà các nhà lãnh đạo CSVN đã, đang và sẽ làm đối với quê hương đất nước để cho các chiến sĩ trong lực lượng quân đội, công an và những ai còn trung thành với đường lối và sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo hiện nay phải nhìn lại việc làm của mình, để sau này khỏi mang tội với Tổ quốc và nhân dân.

Chúng tôi không tham gia bất cứ một đảng phái hoặc tổ chức nào, chúng tôi chỉ là thành phần trẻ, là công dân của đất nước, với tinh thần trách nhiệm và lòng yêu quê hương đất nước bắt buộc chúng tội phải lên tiếng, cũng như sẵn sàng chấp nhận mọi nguy hiểm sau này. Đã là con người thì hành động cũng có lúc đúng, lúc sai. Nhưng cốt yếu là phải nhận ra được cái lỗi lầm để mà khắc phục, hầu tránh tái phạm. Tuy bây giờ là muộn màng, nhưng cũng chưa quá muộn để những kẻ đã đánh mất lương tri, đang lầm đường lạc lối, phải thức tỉnh lương tâm mình trên trên bước đường dân chủ hóa đất nước, để một nước Việt Nam có thể phát triển hùng mạnh, sánh vai với các nước trên toàn thế giới. Chỉ có thế mới có thể gác qua một bên quá khứ, xoa dịu nỗi đau của hàng trăm ngàn vong linh của những người dân vô tội bị chết oan trong chính sách cải cách ruộng đất và phong trào nhân văn giai phẩm ở miền bắc (1953-1957), cùng với những mồ chôn tập thể ở Huế (1968) và các trại tập trung cải tạo sau năm 1975 do ĐCSVN thực hiện. Đây chính là nỗi đau không của riêng ai, mà là của toàn thể dân tộc Việt Nam! Lịch sử Việt Nam mãi mãi khắc ghi những hình ảnh đau thương này.

Không ai chủ trương tiêu diệt ĐCSVN, kể cả các phong trào và những người đang đấu tranh bất bạo động cho dân chủ nhân quyền hiện nay, cũng như những công dân yêu nước đang bị đảng giam cầm, những tội danh mà đảng đưa ra để bỏ tù những công dân yêu nước này là do tòa án của đảng tự đặt ra để kết án họ, chớ thật ra việc làm của họ là phù hợp với hiến pháp của đảng (điều 69 Hiến Pháp) và những điều khoản trong các công ước quốc tế mà chính quyền CSVN đã ký và tình nguyện tham gia. Cương lĩnh của các đảng phái và các phong trào tranh đấu cũng chỉ đòi hỏi một sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng với ĐCSVN thông qua việc ứng cử và bầu cử tự do để nhân dân chọn lựa. Hiện nay, các nhà lãnh đạo đảng đang xiết chặc vòng dây kiểm soát hệ thống Internet, chặc đứt mọi nguồn kinh tế của các nhà đấu tranh dân chủ, bắt buộc những người sử dụng điện thoại di động phải đăng ký tên và số Chứng Minh Nhân Dân (CMND) để theo dõi, mọi việc giao dịch với ngân hàng để vay tiền sản xuất của người dân đều phải qua sự kiểm soát và giới thiệu của các cấp chính quyền, thông tin báo chí đều phải đi bên lề phải do đảng đề ra, mọi quyền hành lãnh đạo trong tất cả các ban ngành đoàn thể trong hệ thống chính quyền từ cơ quan nhỏ nhất cũng đều phải là đảng viên của ĐCSVN…v.v…. Đây là những việc làm không thể chấp nhận được trong một đất nước vừa là thành viên WTO, thành viên LHQ, chủ tịch luân phiên ASEAN mà Việt Nam đang thụ hưởng.

Đất nước đang thực sự lâm nguy vì những hành động ươn hèn để giữ vững địa vị cá nhân của các nhà lãnh đạo chóp bu của ĐCSVN, đây là một sự thật quá rõ ràng. Hành động trên thực tế của các cấp lãnh đạo đảng từ trung ương xuống địa phương đều thể hiện sự thật này. Ngoài việc vùng đất địa đầu Ải nam quan, 2/3 thác bãn Giốc cùng bãi Tục Lãm và trên 10.000km2 vùng biển Vịnh Bắc Bộ đã thực sự về tay Trung Quốc qua các hiệp định, hiệp ước tháng 12/1999 và tháng 12/2000 mà chính quyền CSVN đã ký với TQ, nhưng cho đến hôm nay nhân dân cũng không được biết nội dung các bản hiệp định, hiệp ước này. Còn quần đảo Hoàng Sa nơi có cuộc hải chiến giữa hải quân VNCH với hải quân TQ đầu năm 1974 thì đã được thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký công hàm tháng 9/1958 thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc. Trong khi phần lớn quần đảo Trường Sa thì đã bị Trung Quốc xâm chiếm năm 1988, mà hiện nay bọn người TQ đã xây dựng xong các phi trường và căn cứ quân sự rồi. Còn nhớ trước đây, TQ đã hăm dọa và ngăn cản không cho các công ty khai thác dầu hỏa của Anh và Hoa kỳ hoạt động trên vùng biển VN theo hợp đồng giữa VN và các công ty này, thì hôm nay ngày 26/2/2010 vừa qua, TQ đã đưa lực lượng và phương tiện kỹ thuật đến để dò tìm và khai thác dầu hỏa trên vùng biển đó trước sự im lặng của các nhà lãnh đạo VN.

Trong năm vừa qua Trung tâm thương mại Hồng Vận thành phố Móng Cái do người TQ xây dựng đã ngừng thi công bởi vì Việt Nam phát hiện phía Trung Quốc đã bí mật đào đường hầm xuyên qua biên giới VN. Các nhà lãnh đạo CSVN đã dùng quyền lực của mình để thực hiện cho bằng được dự án khai thác Bauxite ở Tây nguyên, một dự án đã được ông đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lãnh khác trong đảng, các đại biểu Quốc hội cùng trên 3000 nhà trí thức bao gồm từ các giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, nhà khoa học ưu tú trong và ngoài nước phản đối bằng những kiến nghị và đưa ra những tư liệu, phân tích chuyên môn về một đại họa cho môi trường, cho cuộc sống của nhân dân, cho nền văn hóa lâu đời của Tây nguyên, nhất là ảnh hưởng đến sự mất nước trong tương lai nếu đại dự án bô xít vẫn được tiếp tục cho TQ khai thác bởi vì, theo như sự nhận định của đại tướng Võ nguyên Giáp: ai làm chủ được Tây nguyên có nghĩa là sẽ làm chủ cả Đông dương. Nhưng với những con người lãnh đạo đất nước bất tài, không có tư duy và tầm nhìn chiến lược như hiện nay, việc khai thác bô xít vẫn ngang nhiên tiến hành. Tây nguyên đang giẫy chết vì sự khai thác Bô xít, vì sự quậy phá của hàng trăm ngàn công nhân TQ, toàn dân VN đang đau khổ vì tình trạng lạm phát gia tăng, vì sự mất đất do các cán bộ cùng cơ quan nhà nước lạm dụng quyền hành lấy đất của dân, nhất là tình trạng bao che tham nhũng, tiêu cực đang lan tràn công khai trong xã hội. Những đại nạn đang xảy ra cho nhân dân và đất nước chưa khắc phục được, thì mới đây dư luận trong và ngoài nước lại biết đến cái tin động trời: 2 tỉnh giáp biên giới Trung Quốc: Lạng Sơn và Quảng Ninh cùng với 8 tỉnh khác đã âm thầm ký cho Hồng Kong, Trung Quốc và Đài loan thuê trên 300 ngàn hecta rừng đầu nguồn trong thời hạn 50 năm. Trong đó, riêng phần của Trung Quốc là 264 ngàn hecta khiến cho trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cùng đứng đơn kiến nghị lên trung ương đảng, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Nông nghiệp-Môi trường trong đó có đoạn: “Đây là hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Mất của còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Các tỉnh cho thuê rừng dài hạn là tự sát, còn các nước thuê rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo”. Riêng bài viết của cựu thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (người đã từng làm đại sứ VN tại TQ 15 năm) có tựa đề: cảnh giác với thủ đoạn bành trướng mềm của Trung Quốc được đăng trên trang web bô xít và các trang web khác. Cuối bài ông kêu gọi: “Trước những hành động của ông láng giếng hữu nghị trên biển đông cũng như trên đất liền VN. Hàng triệu người VN yêu nước đang bức xúc và sôi gan. Chúng ta phải làm gì đây?”.

Nhìn qua những việc làm của các nhà lãnh đạo CSVN trong thời gian qua. chúng ta có thể nhận thấy ngay rằng: rồi đây VN là một Tây Tạng thứ 2 của Trung Quốc thứ 2 của Trung Quốc là điều chắc chắn sẽ xảy ra bởi vì, không phải ngẫu nhiên mà những sự việc khó tin nhưng có thật này lại xảy ra.

- Trang web thương mại hợp tác VN và TQ, nhưng tên miền…vn lại để cho phía TQ sử dụng hàng mấy năm liền để họ tự do đăng những bài nói xấu VN, đến khi các nhà trí thức biết được và phãn đối thì mới chịu ngưng.

- Trang web điện tử của ĐCSVN do ông Đào Duy Quát làm Tổng Biên Tập, lại đăng nguyên văn bài của các trang web TQ về cuộc tập trận của hải quân TQ trên vùng biển Đông thuộc hải phận VN mà họ từng tuyên bố là của họ gồm cả HS-TS của VN mà không có lời bình luận nào cả. Đến khi gặp sự phản đối quyết liệt của các nhà trí thức cư dân mạng thì mới chịu gỡ xuống. Hành động nối giáo cho giặc này của ông Quát chỉ bị phạt hành chính là 30 triệu đồng VN. Trong khi đó, người con gái Phạm Thanh Nghiên ngồi tọa kháng tại nhà với biểu ngữ “HS-TS là của VN” thì bị bắt giam, ra tòa lãnh bản án 4 năm tù và 3 năm quản chế. Còn nhà báo tự do điếu cày Nguyễn Văn Hải thì bị chính quyền vu khống là trốn thuế với 3 năm tù, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy thì bị công an dàn cảnh đánh trọng thương để có cớ bắt chị với tội danh đánh người, cuối cùng chị phải nhận lãnh bản án 42 tháng tù và 3 năm quản chế.

- Những banner kỷ niệm 65 năm thành lập QĐNDVN được trưng bày trên các ngã đường của thành phố HCM, dưới lá cờ VN lại là hình ảnh của đoàn quân TQ. Khi phóng viên đài RFA phỏng vấn ông Nguyễn Thành Rum (GĐ sở VH-TT) thì ông này trả lời: đó là hình ảnh của đoàn quân TQ được nhân viên của ông lấy từ các trang web của TQ và đã được chỉnh sửa lại, đến khi phóng viên hỏi tại sao ngày lễ kỷ niệm QĐNDVN mà lại không in hình của đoàn quân VN thì ông Rum không trả lời mà cúp điện thoại.

- Song song với những lời tuyên bố đầy khiêu khích và xem thường VN của phát ngôn viên TQ Jiang Ju ngày 5/1/2010: “những tuyên bố của VN chẳng hề trở ngại lớn lao gì đến kế hoạch phát triển của TQ trong khu vực, cũng chẳng gây thiệt hại đáng kể gì đến quan hệ song phương của 2 nước”, cùng lời đe dọa của đại sứ TQ tại VN Tôn quốc Cường ngày 6/1/2010: “hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại,… VN nên tạm gác lại tranh chấp với TQ, chờ thời gian chính mùi rồi sẽ giải quyết”. Nhật báo giải phóng quân TQ đăng bài viết về biên giới như sau: “Nơi nào mà lợi ích của quốc gia chúng ta mở đến, thì đó là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang của chúng ta”.

Với những lời nói của kẻ bề trên như thế, nhưng các nhà lãnh đạo CSVN vẫn im lặng không dám phản đối, ngược lại lúc nào cũng tuyệt đối trung thành với châm ngôn: “16 chữ vàng và 4 tốt” do TQ đề ra. Đã vậy mà TQ cũng chưa vừa ý, còn đưa Dương Khiết Trì (UVBCT) thay mặt ĐCSTQ qua Hà Nội họp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để đưa thêm 4 mối tương quan nữa cho 2 nước Việt-Trung thực hiện đó là:

- Sơn thủy tương liên dịch - Sông núi liền nhau

- Văn hóa tương thông - Văn hóa hiểu nhau

- Lý tưởng tương đồng - Lý tưởng giống nhau

- Mệnh vận tương quan – Vận mệnh gắn bó

- Trong khi TQ lúc nào cũng tìm cách chiếm đoạt nước ta, ngang nhiên bắt bớ, tịch thu tài sản và đánh đập ngư dân của ta để đòi tiền chuộc khiến cho ông Nguyễn Việt Thắng (chủ tịch hiệp hội hải sản VN) bức xúc tuyên bố: “TQ thường xuyên bắt tàu đánh cá của VN, ngay cả khi tàu đánh cá VN không hoạt động trong các vùng biển mà họ cấm, nhưng TQ vẫn bắt và đòi tiền chuộc”. TQ đã ngang nhiên tuyên bố những lời nói trịch thượng và đe dọa VN như thế, nhưng các nhà lãnh đạo VN lúc nào cũng trung thành và ca ngợi TQ bằng chứng là, ngày 17/1/2010 trên trang web điện tử của chính phủ CSVN có điện văn chúc mừng kỷ niệm 60 năm quan hệ VN-TQ có đoạn: “Nhân dân VN luôn luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc, sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của đảng, chính phủ và nhân dân TQ anh em đã dành cho nhân dân VN trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước trước đây và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay. Quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện VN-TQ trên cơ sở phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt đã tạo động lực mới quan trọng đưa quan hệ 2 nước phát triển lên tầm cao mới”.

Vì lòng biết ơn sâu sắc về sự  giúp đỡ của TQ mà ngày nay đất nước phải mất đi những phần đất cùng các hải đảo và vùng biển thiêng liêng nhất mà tiền nhân xưa đã phải hy sinh xương máu để gìn giữ. Cũng vì lòng biết ơn sâu sắc mà đại dự án bô xít Tây nguyên (một dự án cực kỳ nguy hiểm cho tương lai đất nước) giao cho TQ khai thác, cùng với 264 ngàn hecta rừng nguyên liệu đầu nguồn cũng dành cho TQ thuê thời gian 50 năm. Trong tương lai không biết với phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt cùng 4 mối tương quan mà TQ vừa thêm vào, đất nước VN sẽ ra sao trong mục tiêu đưa quan hệ 2 nước phát triển lên tầm cao mới của chính quyền CSVN.

Thiết nghĩ nếu CNCS Marx-Lenin mà tuyệt vời và thực hiện được như những lời giảng dạy của các gíao viên trong hệ thống giáo dục VN, như những lời tuyền truyền của cán bộ chính quyền trong nhân dân, thì các nước CS đông âu và ngay cả Liên Xô nơi sinh ra ông Lê-Nin không bao giờ từ bỏ nó, cũng như tất cả các nước văn minh và tiên tiến trên thế giới đâu có nước nào theo CNCS. Một thực tế đã cho mọi người thấy rằng, 4 nước CS còn sót lại trên thế giới đều phải nhờ vào sự giúp đỡ và đầu tư của các nước dân chủ đa nguyên, ngay cả con cái của các nhà lãnh đạo CS vẫn gởi con du học tại các nước tư bản này mà VN là điển hình. Như vậy, có phải CNCS đã thực sự lỗi thời trong nền văn minh của nhân loại?

Các tướng lãnh, các đảng viên cao cấp, các nhà ngoại giao của đảng, các nhà trí thức VN, đang mạnh dạn phê phán những chính sách sai lầm của các nhà lãnh đạo CSVN, họ không bao giờ bị sự xúi giục của các thế lực nước ngoài, càng không phải là thành phần phản động như sự suy nghĩ của đảng. Vì sự tồn vong của đất nước, vì lợi ích lâu dài của toàn dân, vì nhận thấy con đường CNCS là không tưởng cho nên, họ mới chấp nhận hiểm nguy để dấng thân vào con đường chính nghĩa của dân tộc.

Chúng tôi xin kết thúc bài viết này bằng lời phát biểu của 2 nhà lãnh đạo ĐCSVN đã từng cống hiến hết mình cho đảng:

1/ – Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt: “….. Tổ quốc là của mình, đất nước là của mình, quốc gia là của mình, VN là của mình chớ không phải là của riêng của người CS hay bất cứ tôn giáo hay phe phái nào….., một quốc hội có người tự ứng cử và được dân bầu lên một cách thực sự tự do, công bằng thì sẽ tốt hơn quốc hội bây giờ…”.

2/ – ông Lữ Phương (cựu thứ trưởng bộ văn hóa chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN): “…. Ngày xưa nếu ĐCSVN đã cứu nước khỏi ách thực dân, thì bây giờ chính CNTB sẽ cứu nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu”.

Quyền lợi của Tổ quốc, của quốc gia dân tộc là trên hết, còn quyền lợi của các cá nhân và của ĐCSVN và các đảng phái khác chỉ là một trong các thành phần của xã hội mà thôi. Đã đến lúc các nhà lãnh đạo CSVN phải thay đổi tư duy để còn tiếp tục tồn tại trong lòng dân tộc. Dĩ nhiên, là con người thì không ai muốn đất nước mình phải rơi vào tay nước khác, dân tộc mình phải sống cuộc đời nô lệ, và nếu những gì mà chúng tôi nêu ra là đúng sự thật thì các cá nhân và các lực lượng quân đội, công an phải biết rằng: con đường phục vụ của mình là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đất nước và quyền lợi của nhân dân. Nếu tiếp tục trung thành với đường lối của các nhà lãnh đạo CSVN như hiện nay, tức là phản bội Tổ quốc và nhân dân.

Sài Gòn ngày 8/3/2010

© Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ

TB: Hôm nay, nhân ngày Quốc tế Phụ nữ 8/03, nhóm sinh viên Luật chúng tôi xin gởi đến chị Lê Thị Công Nhân, bậc đàn chị của chúng tôi, những đoá hoa hồng tươi thắm nhất và xin kính chúc chị luôn luôn gặp nhiều may mắn trong suốt thời gian 3 năm quản chế còn lại. Chị rất xứng đáng là tấm gương tiêu biểu nhất của giòng nữ lưu VN thế kỷ 21. Chắc chắn rằng sự dấn thân và lòng dũng cảm của chị sẽ mãi mãi trường tồn trong lòng dân tộc.

No Comments

Thế nào là gác tranh chấp, cùng khai thác Biển Đông

March 9th, 2010    Posted in Uncategorized

 

 
Nguyễn Vĩnh Huy
March 2, 2010

Nghe

Đảo Trường Sa ( Ảnh minh họa)
 

Trong lịch sử biển Đông luôn luôn là một vùng liên quan tới kinh tế và quân sự của thế giới. Biển Đông cũng đang là điạ bàn tranh chấp chủ quyền một số đảo của các quốc gia chung quanh gồm có Việt Nam,Trung quốc, Mã Lai, Phi luật Tân, Tân gia Ba, Đài Loan và Brunei.
Tóm lại, tất cả các chứng liệu đều xác định VN được chủ quyền HS, trừ có Phạm Văn Đồng năm 1958 thay mặt đảng và nhà nước CSVN gửi công hàm đồng ý với quan điểm của TC. Hoàng Sa VC há miệng mắc quai tạm để tội đó. Trường Sa đang tranh chấp mà gác sang bên tính sau thì tạm nghe được, nhưng gác sang bên mà cùng khai thác thì chẳng khác gì là công nhận quyền xử dụng của TC. Không có danh nghĩa là chủ nhân, nhưng mà khai thác, xử dụng tự nhiên thì có khác gì làm chủ? hỡi mấy nhà lãnh đạo tự nhận là đỉnh cao trí tuệ loài người được Hồ chí Minh đào luyện?
Nguyễn Vĩnh Huy   

 

Trong cuộc tranh chấp này, mỗi khi gặp trường hợp bất lợi, TQ luôn luôn đưa ra chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”, nghe rất êm tai nhưng thực chất chỉ có lợi cho TQ. Điển hình là tại cuộc hội thảo quốc tế với chủ đề “Biển Đông: tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực” tổ chức tại Hà Nội ngày 26-27/11/2009, phía TQ cũng lập lại khẫu hiệu “gác tranh chấp cùng khai thác” với những đề nghị để Trung quốc hoàn toàn giữ thế ăn trên ngồi trốc. Trong một bài viết trên trang  điện tử Tuần Việt Nam ngày 21/1/2010 nhan đề “Gác tranh chấp cùng khai thác kiểu TQ” tác giả Dương Danh Huy đã vạch rõ rằng “VN và TQ bàn về khả năng cùng khai thác bãi Tu Chính, một khu vực nằm gần như hoàn toàn bên trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ lãnh thổ không bị tranh chấp của VN, không thuộc quần đảo Trường Sa vốn đang trong tình trạng tranh chấp chủ quyền; trong khi đó, chủ trương gác tranh chấp cùng khai thác của TQ không bao gồm quần đảo Hoàng Sa, nơi TQ đang chiếm đóng.Thậm chí, TQ còn cho rằng không tồn tại tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.”

Biển Đông mà TQ gọi là Nam Hải, trước năm 1950 không có vấn đề tranh chấp chủ quyền, chẳng có ai quan tâm. Hàng ngày chỉ có ngư dân VN tới lui săn bắt đánh cá; đôi khi ghé vào HS hay TS nghỉ ngơi, hoặc trốn tránh bão táp. Năm 1970 khi các công ty Exxon, Mobyl Oil, Shell và các nhóm chuyên viên thăm dò địa chất của Hoa Kỳ khám phá dưới lòng đại dương khu vực này có nhiều túi dầu với trữ lượng lớn, nghĩa là những mỏ vàng đen vĩ đại, lúc đó lập tức mấy nước chung quanh là TQ, PLT, Đài Loan, Mã lai…lên tiếng dành chủ quyền với những chứng cớ mơ hồ hoặc ngụy tạo. TQ lớn lối nhất. Năm 1976 TQ vẽ bản đồ, ấn định biên giới trên đất trên biển. Biên giới lãnh hải TQ vẽ bằng đường 9 khúc, hình lưỡi bò, chạy dọc sát bờ biển VN, xuống tới tận Mã Lai, Tân gia Ba, Phi luật Tân, lên tới Nhật Bản; hầu như không nước nào còn biển nữa.

TQ đã in sách giáo khoa về lãnh hải này để dạy học sinh; và cũng in nhiều tài liệu về lãnh hải phổ biến khắp thế giới. NB và PLT cảnh cáo TQ ngay lập tức. TQ im lặng.

Đảo Shenkaku,TQ gọi là Điểu ngư Đài, nằm trong vùng biển giữa TQ và NB, đang do NB chiếm giữ, TQ lên tiếng dành chủ quyền. Hai bên tranh chấp nhiều năm. Ngày 25/10/1978 Đặng tiểu Bình qua NB, đề nghị với thủ tướng NB Takeo Fukuda: Gác tranh chấp Shenkaku, NB đồng ý. Ngày 11/5/1979 Đặng tiểu Bình đề nghị TQ và NB cùng khai thác Shenkaku và vùng biển lân cận. NB dứt khoát khước từ. Tương tự, tháng 4/1988, TQ đề nghị với Tổng thống PLT Corazon Aquino là hai nước gác tranh chấp cùng khai thác chung Trường Sa và vùng Scarborough Shoal. Phi đồng ý gác tranh chấp, nhưng bác bỏ việc khai thác chung. Nay TQ lại chơi trò quỷ quái đó với VN. CSVN đã không dám có thái độ đối với TQ như Nhật Bản và Phi luật Tân!

Trường Sa[Spratly Islands] TQ gọi là Nam Sa, gồm 148 đảo lớn nhỏ. Vị trí đảo ở bắc vĩ tuyến 8độ38 và đông kinh tuyến 111 độ55. Về mặt địa dư, VN, ML, PLT, Brunei đều gần TS, còn TQ ở xa xôi hơn rất nhiều, nhưng lại vẫn đòi dành chủ quyền. Chứng tích lịch sử VN đã cho thấy ngư dân và thủy quân VN đã thường xuyên hoạt động ở vùng quần đảo này từ thế kỷ 17, vậy mà khi TC ngăn cấm và sát hại ngư dân VN đánh bắt cá ở khu vực này, CSVN tuyệt nhiên không có một hành động cụ thể  và hữu hiệu nào để bảo vệ chủ quyền và ngư dân VN, mà chỉ lập lại như con vẹt mấy lời phản đối xuông giống nhau trăm lần như một.

Hoàng Sa[Paracel Islands] gồm 30 đảo [cổ thư VN ghi là 130 đảo]ở tọa độ bắc vỹ tuyến 15độ45-17độ15 và đông kinh tuyến 111độ00-113độ00. Khoảng cách gần VN nhất là 123 hải lý. Khoảng cách gần TQ [Hải Nam] nhất là 140 hải lý và cách đại lục TQ là 235 hải lý. Khoảng cách gần PLT nhát là 320 hải lý.

- Xét về mặt địa lý, HS gần VN nhất : chủ quyền thuộc về VN               
- Xét về mặt pháp lý, theo công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc: hải phận quốc phòng là 12 hải lý; hải phận kinh tế là 200 hải lý cho các nước liên hệ có khoảng cách đảo trên 400 hải lý. Nếu khoảng cách ngắn hơn, thì chia đôi lấy trung tuyến chính là hải giới. Tất cả những điều này cho thấy HS thuộc chủ quyền của VN.
- Xét về lịch sử, khi chưa có người nước nào tới đảo HS, đầu thế kỷ 17 chúa Nguyễn đã tổ chức đội HS và Bắc Hải trấn đóng HS. Năm 1686 thượng thư Đỗ Bá Công đã soạn bộ Thiên Nam Tử Chí Lộ Đồ Thư, trong đó có vẽ cả bản đồ, xác nhận An Nam khai thác HS. Năm 1835 vua Minh Mạng cho xây đề, bia đá, trồng cây trên đảo, và cử đội HS và Bắc Hải tuần tiễu và khai thác HS.
- Hiệp ước Pháp-Thanh ấn định biên giới VN-TQ và HS thuộc VN.

No Comments

Đối thoại Dân chủ

March 5th, 2010    Posted in Uncategorized

 

Ls. Lê Thị Nhân Công Ls. Lê Thị Nhân Công 

 

“…nếu chỉ để “xì hơi giải toả những bức xúc xã hội” thì thực tế nhà nước đã cung cấp cho dân truyền hình, các cuộc thi hoa hậu, ca nhạc hội, quán rượu, spa, sòng bài biên giới… tha hồ để “xì hơi giải toả” rồi…”

Đối thoại là một nhu cầu cần thiết của con người. Nhu cầu này đặc biệt cần thiết cho các xã hội đang cần bước đi những chặng đường mới. Chỉ có các xã hội như Bắc Hàn mới thiếu vắng đối thoại, và nơi đó triệu người như một, không ai dám thốt lên một lời nghịch ý lãnh đạo.

Trường hợp Việt Nam? Nhu cầu đối thoại đã được nêu ra không chỉ từ người ở “lề trái”, mà ngay cả từ những người có quan tâm tới sự ổn định quyền lực của Đảng CSVN. Trong những người đặt vấn đề về nhu cầu đối thoại mới nhât trên báo Tuần Việt Nam, có Tiến Sĩ Mai Liêm Trực khi trả lời phỏng vấn báo này qua bài có nhan đề: “Vấn đề “nhạy cảm” hay là sự né tránh trách nhiệm?”. Báo này ghi nhận rằng:

“TS. Mai Liêm Trực, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông được coi là người mở đường cho bùng nổ Internet tại Việt Nam.

Mới đây ông đã được CLB Nhà báo CNTT Việt Nam bình chọn là một trong số 10 nhân vật có đóng góp tích cực nhất cho sự phát triển CNTT-TT thập kỷ qua.

Chính ông sớm nhận thức ra xu hướng phát triển Internet, đã thuyết phục các nhà lãnh đạo Việt Nam cho mở Internet và tạo điều kiện về mặt quản lý nhà nước cho Internet phát triển, với một quan điểm quản lý mang tính đột phá lúc đó là “Năng lực quản lý phải theo kịp với yêu cầu phát triển”, thay cho tư duy quản lý cũ là “quản lý được đến đâu, mở ra đến đó”…”

Điều nguy hiểm được Tiến Sĩ Mai Liêm Trực báo động, là bản văn kiện soạn thảo cho đại hội đảng sắp tới có đầy tính bảo thủ, khước từ đối thoại với các ý kiến người dân và lộ vẻ muốn “siết lại làm quả bóng nó thêm căng”.

Cụ thể, Tiến Sĩ Mai Liêm Trực nói:

…Để các văn kiện tiếp thu được tất cả những tinh hoa và giá trị của toàn dân tộc thì trước hết những người thực hiện phải có năng lực để mà đưa ra những cách thức thu hút người dân tham gia góp ý cho văn kiện. Mặt khác, những người đó cũng phải có năng lực để tiếp nhận và xử lý thông tin.

Nhưng tôi có cảm giác rằng hình như việc tổ chức soạn thảo các văn kiện hiện nay vẫn là những đội ngũ đã làm nhiều kỳ các văn kiện trước đây và sức tiếp thu những tư duy mới có vẻ hạn chế…

Dân tộc mình đã theo Đảng bao nhiêu năm, Đảng của mình là đảng duy nhất lãnh đạo và xứng đáng với điều ấy. Nhưng đứng về tâm trạng tôi cảm thấy nguy cơ tụt hậu vẫn tiếp tục còn.

Chúng ta đang cố gắng thoát khỏi thân phận một nước nghèo nhưng ngay như bản thân tôi không thể tránh khỏi cảm giác có lỗi khi những ngày gần tết mở cửa ra vẫn thấy những bà mẹ già gánh từng bó rau đi bán, không thể không cảm thấy xấu hổ và sốt ruột khi thấy phụ nữ Việt Nam phải xếp hàng cho đàn ông Hàn Quốc chọn vợ.

Công cuộc Đổi mới của chúng ta có những lúc bị lựng khựng, lúng túng và thường những vấn đề bức xúc cứ để lại nhiệm kỳ sau làm cho sức mạnh của Đảng, của Dân tộc chưa được phát huy hết.

Tôi cho rằng những biện pháp để đất nước phát triển, để bảo vệ chế độ có lẽ nên bằng hình thức xì hơi giải toả những bức xúc xã hội, bằng đối thoại dân chủ hơn là siết lại làm cho quả bóng nó thêm căng…”

Thật là hiếm hoi được nghe tới nhu cầu đối thoại dân chủ. Nhưng nếu chỉ để “xì hơi giải toả những bức xúc xã hội” thì thực tế nhà nước đã cung cấp cho dân truyền hình, các cuộc thi hoa hậu, ca nhạc hội, quán rượu, spa, sòng bài biên giới… tha hồ để “xì hơi giải toả” rồi.

Điều chúng ta tin rằng Tiến Sĩ Mai Liêm Trực muốn nói tới nhu cầu khác hơn, phải là một suy tư về cơ nguy sinh tử của dân tộc – thí dụ như Biển Đông, như rừng biên giới, như bô xít Tây Nguyên. Có thể là lời chưa nói hết? Hay vì chưa tiện công khai lên mặt báo? Nhưng thấy rõ là Tiến Sĩ Mai Liêm Trực quan tâm về dấu mốc đại hội Đảng CSVN, nơi có thể có hướng đi tích cực hơn.

Nhà văn ký tên “Người Buôn Gió”, trong bài viết nhan đề “Phát triển kinh tế hay tư duy nhiệm kỳ?” trên blog của ông, được trang Bô Xít VN đăng lại, đã nêu lên vấn đề nhu cầu phát triển trường kỳ bị các lãnh đạo bỏ quên, đã tìm cách đối thoại dân chủ bằng cách nêu rõ các quan tâm về mỏ, về rừng:

“Dự án khai thác quặng nhôm trên Tây Nguyên của Chính phủ gặp nhiều ý kiến phản đối trong mọi giai tầng nhân dân. Nhưng vì sự thống nhất từ Bộ Chính trị mà dự án này đột nhiên được thông báo là tiếp tục triển khai vì lợi ích kinh tế khu vực Tây Nguyên và được sự đồng thuận cao trong nhân dân?

Mới đây người ta vừa được biết có hơn 300 ngàn ha rừng đầu nguồn đã được cho Trung Quốc thuê với thời gian đến nửa thế kỷ.

Lý do đưa ra vẫn muôn thuở – phát triển kinh tế khu vực.

Một dự án bô xít Tây Nguyên mà dư âm phản đối còn chưa lắng đọng, lại tiếp thêm 300 nghìn ha rừng đầu nguồn.

Phát triển kinh tế khu vực hay tư duy nhiệm kỳ?

Có lẽ cụm từ “tư duy nhiệm kỳ” nhẹ nhàng và có phần sát với thực tế hơn là kết luận “bán nước”.

Ở nhiệm kỳ của mình, vị lãnh đạo nào cũng muốn thể hiện được việc gì đó rõ ràng mang ích lợi về cho địa phận mình quản lý. Ở tình trạng dân chúng làm ăn tư duy manh mún, chụp giật, cán bộ dưới quyền quan liêu , năng lực yếu, bộ máy hành chính cồng kềnh những vận hành trì trệ, không ăn khớp… để giải quyết hạ tầng năng lực, tư duy ở một địa phương như vậy, nhà lãnh đạo cần bao nhiêu năm? Giải quyết vấn đề phi vật thể như vậy, công sức bỏ ra nhiều, thời gian cũng nhiều mà kết quả không thể đánh giá được ngay. Người lãnh đạo cầu toàn thường hay chọn cho mình phương án tối ưu nhất trong thời gian mình lãnh đạo địa phương. Và cách thu được tiền bạc nhanh nhất là cho thuê đất, đào tài nguyên đem bán lấy tiền? Nhất là không thể không nói đến những khoản hoa hồng cho người đặt bút ký.

Nhiệm kỳ 10 năm làm vậy, thì các lãnh đạo khác của 40 năm sau này còn gì để thuê, còn gì để khai thác. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì chỉ thêm vài nhiệm kỳ nữa, con người Việt Nam còn chưa chắc thuộc về mình chứ đừng nói đến đất đai, tài nguyên, chủ quyền, văn hóa…”

Từ trong nước đã nói như thế. Từ chỗ nói nhẹ nhàng như Tiến Sĩ Mai Liêm Trực, tới chỗ nói thẳng mục tiêu như Người Buôn Gió. Nếu Đảng CSVN muốn đối thoại dân chủ, tất có nhiều bàn họp nên được mở ra để cung thỉnh người góp ý.

Từ hải ngoại, một tiếng nói khác cũng nêu lên nỗi lo -thực sự, tác giả Bùi Tín viết là hiểm hoạ, chứ không phảỉ nỗi lo. Bài viết nhan đề “Hai lão tướng chỉ ra hiểm hoạ” trên trang Bùi Tín Blog ở Đàỉ VOA, nêu lên lời của hai vị tướng báo nguy:

Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, từ năm 2004, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được Trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng Bộ chính trị do ông Nông Ðức Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên “khoanh lại” để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che giấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. Hai ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là “bạn tốt” nhất, “đồng chí tốt” nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.

Trong bài viết mới này, 2 ông tướng yêu nước, thương dân đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết những thoả thuận với 10 doanh nghiệp Trung Quốc đóng tại Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan, cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài. Các tỉnh đó là: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn, các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Các thoả thuận đều có hiệu lực giá trị trong thời gian 50 năm,và có thể sẽ được gia hạn thêm sau đó.

Hai viên lão tướng chỉ rõ hiểm hoạ cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, nay 94 tuổi. Hai ông báo động: Các doanh nghiệp Trung Quốc sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, môi trường sẽ bị huỷ hoại. Hai ông kết luận: đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước…”

Lời của nhà báo Bùi Tín mạnh bạo hơn. Từ lời nhắc nhẹ nhàng của Tiến Sĩ Mai Liêm Trực về nhu cầu đối thoại dân chủ, cho tới lời quan ngại của Người Buôn Gió về viễn ảnh 40 năm sau Việt Nam chẳng còn gì, cho tới lời cụ thể của nhà báo Bùi Tín khi diễn lại lời của 2 vị tướng là “một cuộc tự sát của quê hương đất nước…”

Nói thống thiết như thế, mà nhà nước có nghe chăng? Hay là chính phủ không cần đối thoại?

Một bản tin trên đài BBC sáng Thứ Hai 1-3-2010 cho biết: “Gia đình luật sư bất đồng chính kiến Lê Thị Công Nhân cho hay chị sẽ mãn hạn tù và trở về nhà vào thứ Bảy tới (06/03).”

Hôm 11/05/2007, Lê Thị Công Nhân bị Tòa án TP Hà Nội xử 4 năm tù giam và 3 năm quản chế vì vi phạm Điều 88 Bộ Luật Hình sự. Tuy nhiên sau đó án phạt này đã được giảm 1 năm, còn 3 tù giam và 3 năm quản chế tại phiên phúc thẩm 27/11/2007”.

Cần nhắc rằng, luật sư Lê Thị Công Nhân là người nhiều năm trước đã bày tỏ một khát vọng đối thoại, và đã trực tiếp nêu lên nhu cầu đối thoại dân chủ. Và lúc đó, Đảng CSVN đã trả lời cho lời đòi hỏi đối thoại này bằng một bản án tù.

 

Không có bao nhiêu người dám trả giá cho đòi hỏi đối thoại dân chủ như luật sư Lê Thị Công Nhân. Những dòng chữ này xin được đón mừng luật sư họ Lê ra tù, và xin nêu lên ước mơ rằng khát vọng đối thoại dân chủ vẫn cháy bỏng trong tim của vị anh thư này và của hàng chục triệu người dân.

© Trần Khải

No Comments

Một Câu Chuyện Cảm động về những Ngừoi Lính

March 2nd, 2010    Posted in Uncategorized

Để câu truyện thêm rõ ràng, tưởng cũng cần nói thêm là mấy lúc sau nầy, trong mục đích cạnh tranh giảm tiền vé tối đa, các hãng hàng không không còn serve thức ăn trên tàu cho hành khách economy class ( trừ business class hay first class và những chuyến oversea long haul) mà thay vào đó chỉ bán sandwich, snack dưới hình thức BOB (buy on board) những bao đồ ăn trưa.

NHỮNG NGƯỜI LÍNH
Tôi đặt hành lý vào hộc ở trên đầu rồi ngồi xuống ghế. Đây là chuyến bay dài làm tôi ước gì mình có một quyển sách hay để đọc trên phi trình. Có lẽ tôi cũng cần chợp mắt một chút.
Vừa lúc trước khi máy bay cất cánh, một nhóm 10 người lính trẻ men theo lối đi và ngồi hết vào các chỗ trống rải rác còn lại. Chẳng có gì để làm, tôi bắt đầu gợi chuyện người lính ngồi gần nhất:
- Các cậu đi tới đâu vậy?
- Petawawa. Chúng tôi sẽ ở đó hai tuần để thụ huấn một chương trình huấn luyện đặc biệt rồi sau đó sẽ bổ sung tới A Phú Hãn.
Sau khi máy bay cất cánh độ một tiếng thì tiếng loa thông báo là trên máy bay có bán thức ăn nhẹ đựng trong bao giá 5 mỹ kim.
Cũng còn lâu lắm chuyến bay mới tới phía Đông nên tôi quyết định mua một bao đồ ăn để vừa ăn vừa giết thì giờ.. Khi tôi móc bóp lấy tiền thì chợt nghe một người lính hỏi bạn mình là có muốn mua thức ăn không.
- Không! Có vẻ như mắc quá đó.. Bao lunch gì mà tới 5$.
Thôi tao ráng đợi tới căn cứ hẳn hay.
Và anh lính trẻ gật gù đồng ý với bạn.
Tôi đảo mắt nhìn chung quanh thì thấy mấy người lính khác cũng không có ý định mua gì cả mặc dù lúc đó cũng đã tới giờ ăn trưa rồi. Một ý nghĩ chợt đến trong đầu, tôi gọi người nữ tiếp viên tới đưa cho bà ta 50$ và nói:
- Xin bà vui lòng lấy thức ăn cho những người lính nầy.
Người tiếp viên ngạc nhiên nắm chặt lấy tay tôi, qua đôi mắt long lanh ngấn lệ vì xúc động, bà ngõ lới cám ơn tôi và nghẹn ngào:
- Con trai tôi cũng là một quân nhân đang chiến đấu tại Iraq . Nghĩa cử nầy của ông như đang dành cho nó vậy. Rồi bà xăng xái đi lấy 10 bịch đồ ăn trao cho tất cả các người lính trên tàu. Sau đó bà dừng lại chỗ tôi hỏi:
- Thưa ông dùng gì ạ? Bò, gà rất hảo hạng.
- Xin cho tôi gà
Tôi trả lời bà ta trong một thoáng ngạc nhiên vì theo tôi biết hạng economy bây giờ chỉ có BOB thôi mà.

 

Người nữ tiếp viên đi về phía trước của máy bay độ một phút sau trở lại với nguyên khay thức ăn nóng hổi dành cho hành khách vé hạng nhất, bà trịnh trọng nói với tôi:
- Đây là tấm lòng tri ân nho nhỏ của những người trên chuyến bay nầy đối với ông
Sau khi ăn xong với tâm trạng sảng khoái nhẹ nhàng, tôi bước tới phòng vệ sinh ở phía sau cùng. Trên đường đi, một người đàn ông thình lình đứng lên chận tôi lại nói:
- Tôi rất cảm phục việc ông làm, xin ông cho tôi được chia phần mà vui lòng nhận cho.
Nói xong, ông ta dúi vào tay tôi 25 mỹ kim.
Sau đó không lâu, viên phi công trưởng rời buồng lái vừa đi vừa nhìn số ghế ghi trên hộc hành lý, linh cảm khiến tôi thầm mong ông ta đừng kiếm tôi nhưng Chúa ơi! Ông ta dừng lại ngay hàng ghế của tôi rồi cười thật tươi và chìa tay ra nói:
- Tôi muốn được bắt tay ông
Cực chẳng đã, tôi mở dây an toàn đứng dậy bắt tay viên phi công trưởng.
Với giọng hân hoan, ông ta nói lớn như để mọi người cùng nghe:
- Tôi cũng đã từng là một quân nhân và cũng là phi công chiến đấu. Có một lần có người cũng mua cho tôi thức ăn. Điều đó thực sự thể hiện cả một tấm lòng tốt đẹp mà tôi không bao giờ quên.
Cả một tràng pháo tay tán thưởng vang dội làm tôi đỏ bừng mặt vì mắc cở.
Chỉ với một hành động nhỏ nhặt tầm thường của tôi mà đánh động lương tâm con người đến thế sao?
Vì chuyến bay quá dài nên có một lúc, tôi phải đi bộ về phía trước để rản gân cốt thì bỗng nhiên có một nam hành khách ngồi trên tôi độ sáu dãy đưa tay ra bắt và để lại trong tay tôi cũng 25 mỹ kim.
Bầu không khí trên chuyến bay thật nhẹ nhàng và chan hoà tình người cho tới khi máy bay hạ cánh. Tôi lấy hành lý và bắt đầu bước ra khi vừa tới cửa máy bay thì một người đàn ông chận tôi lại và nhét nhanh vào túi áo tôi một thứ gì đó xong ông ta vội vả bước đi mà không nói một lời. Lại thêm 25$ nữa.
Nếu tính ra, tôi chỉ chi có 50$ mà bây giờ thu lại tới 75$. Kiếm được 25$ dễ dàng đến thế sao! À ! Quên! Còn bữa ăn thiệt ngon miệng nữa chứ.
Đúng là khi ta làm phải thì không bao giờ lỗ lã cả.
Tôi vui vẻ bước nhanh vào cửa phi trường thì thấy mấy người lính trẻ kiểm điểm nhân số để chuẩn bị về căn cứ. Tôi tiến tới trao cho họ 75 mỹ kim và nói:
- Từ phi trường về tới trại phải khá xa. Mà bây giờ cũng đã tới giờ để dằn bụng một cái sandwich chứ. Chúa sẽ ban ơn cho các cậu.
Mười người lính trẻ trong ngày hôm đó chắc đã rời chuyến bay trong tâm trạng yêu thương và kính mến những hành khách đồng hành. Tôi hăng hái bước tới xe với lời thì thầm nguyện cầu cho tất cả sẽ được trở về trong an bình.
Những chàng trai nầy đã hy sinh tất cả cho quê hương mà tôi chỉ biếu họ có một vài phần ăn. Thật là quá ít ỏi nếu không muốn nói là chỉ trong muôn một.
Nghĩ xa hơn nữa, người cựu chiến binh đã từng đánh đổi cả cuộc đời khi viết lên chi phiếu trắng đề tên người nhận là “Hiệp Chủng Quốc” mà số tiền có thể lên đến chính sinh mạng của họ.
Đó là một vinh dự tối cao lẽ ra cả đất nước phải dành cho họ nhưng than ôi! Có nhiều người đã không cần biết tới và bỏ quên họ.
Xin Chúa ban sức mạnh và lòng can đảm cho bạn chuyển tiếp câu chuyện nầy tới bạn bè quen biết.
Riêng tôi thì đã làm xong.

Toronto Sept 4,2009
Nguyên Trần

 

No Comments

Bắc Kinh đang ngày càng mạnh bạo trong khu vực Biển Đông

February 27th, 2010    Posted in Uncategorized

Bắc Kinh ‘đang ngày càng mạnh bạo’ ở khu vực biển Đông

Hồi đầu tháng Hai vừa qua, một cuộc điều trần về sự trỗi dậy của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có vấn đề tranh chấp lãnh hải ở biển Đông, đã diễn ra tại Quốc hội Hoa Kỳ, với sự tham gia của nhiều chuyên gia và các nhà ngoại giao cấp cao. Trong chuyên mục ‘Câu chuyện Việt Nam’ tuần này, mời quý vị theo dõi cuộc trao đổi của Nguyễn Trung với một trong các diễn giả của buổi điều trần, Tiến sĩ Richard Cronin, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm nghiên cứu Henry L. Stimson ở thủ đô Washington.

Nguyễn Trung | Washington, DC Thứ Sáu, 26 tháng 2 2010

Tiến sĩ Richard Cronin
Hình: Richard Cronin

Tiến sĩ Richard Cronin, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm nghiên cứu Henry L. Stimson ở thủ đô Washington

Chia sẻ

Tin liên hệ

Ðường dẫn liên hệ

VOA: Ông từng cho rằng Bắc Kinh ‘đang ngày càng mạnh bạo’, thậm chí là ‘khiêu khích’, khi khẳng định chủ quyền ở khu vực biển Đông (mà Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa). Lý do nào đưa ông tới quan điểm như vậy?

Tiến sĩ Richard Cronin: Tôi nghĩ rằng các tuyên bố của Trung Quốc bấy lâu nay không được thừa nhận theo Công ước Quốc tế về Luật Biển. Phần lớn khu vực biển Nam Trung Hoa là vùng lãnh hải mang tính lịch sử. Điều đó có nghĩa là Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền ở vùng biển trong Khu vực Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Việt Nam, Philippines và một số nước khác.

Hơn nữa, Trung Quốc đã gây áp lực buộc các công ty dầu mỏ nước ngoài không khai thác tại các lô mà Việt Nam đề nghị họ thăm dò. Bắc Kinh đã nói với các công ty này rằng nếu họ khai thác ở các khu vực mà Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền, họ sẽ không thể hoạt động kinh doanh ở đất nước đông dân nhất thế giới.

Theo tôi biết, các công ty này còn được hứa rằng nếu họ không thăm dò ở vùng biển tranh chấp, họ sẽ được cho phép khai thác thêm các lô thuộc lãnh hải Trung Quốc trên vùng biển Nam Trung Hoa. Đó là một áp lực ảnh hưởng tới Việt Nam và các nước khác vì họ không thể khai thác các mỏ dầu khí ở ngoài khơi nếu Trung Quốc chưa cho phép.

Một vấn đề khác nổi lên gần đây là quyền tự do hoạt động trên vùng biển quốc tế và qua các tuyến đường hàng hải thuộc khu vực EEZ hay vùng lãnh hải của các nước khác. Trong thời gian qua, Trung Quốc đã can dự vào một số vụ việc gây hấn với tàu hải quân Hoa Kỳ đi qua khu vực gần đảo Hải Nam và một số khu vực khác. Hoa Kỳ thực sự quan ngại về vấn đề này vì Washington ưu tiên bảo vệ quyền tự do hoạt động trên vùng biển quốc tế cũng như hoạt động thương mại và di chuyển của tàu chiến qua biển Nam Trung Hoa.

VOA: Có quan ngại cho rằng việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh hải quân là một mối đe dọa tiềm tàng đối với các nước tranh chấp ở biển Đông. Ông có nghĩ như vậy không?

Tiến sĩ Richard Cronin: Tôi cũng cho rằng việc Trung Quốc tăng cường hải quân đe dọa tới hòa bình và ổn định trong khu vực. Nhưng sẽ còn lâu khả năng của Trung Quốc mới có thể thách thức hải quân Hoa Kỳ. Tôi thực sự không nghĩ rằng Washington sẽ từ bỏ ảnh hưởng sức mạnh hải quân của mình ở châu Á – Thái Bình Dương vì đó là khu vực quan trọng với Hoa Kỳ.

Nhưng rõ ràng Trung Quốc muốn thách thức bằng cách mua sắm các thiết bị mới như các tàu tấn công có trang bị tên lửa. Dường như đó là một cuộc chạy đua vũ trang âm thầm, dù phía Hoa Kỳ không làm vậy. Rõ ràng Bắc Kinh gia tăng việc từ chối tiếp cận đối với các khu vực họ cho là quan trọng ở vùng biển Nam Trung Hoa, mà theo luật quốc tế, có thể thuộc về Việt Nam và các quốc gia khác.

Washington quan ngại về việc Bắc Kinh củng cố sức mạnh hải quân, không chỉ vì thách thức họ đối mặt mà vì an ninh, hòa bình và ổn định của các đồng minh, các quốc gia bạn hữu của Hoa Kỳ trong khu vực.

VOA: Bắc Kinh luôn luôn tuyên bố rằng ‘tranh chấp lãnh hải là vấn đề song phương’ và ‘không thể được giải quyết thông qua cơ chế đa phương’. Quan điểm của ông như thế nào?

Tiến sĩ Richard Cronin:
Cá nhân tôi đang đề xuất với một tổ chức nổi tiếng về việc tiến hành một cuộc hội thảo liên quan tới các quốc gia không có tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc, nhưng hoạt động ở vùng biển Nam Trung Hoa. Tôi tạm thời chưa muốn tiết lộ tên của tổ chức lớn này.

Quan điểm của tôi cùng một số chuyên gia khác ở Nhật Bản cho rằng không nên để cho Trung Quốc đàm phán song phương với các quốc gia láng giềng, hay thậm chí là giữa Bắc Kinh với tất cả các nước láng giềng có tranh chấp quanh khu vực biển quốc tế có thuyền bè qua lại nhộn nhịp và có nguồn dầu, khí, hải sản phong phú, có giá trị này. Trung Quốc không muốn đàm phán đa phương, mà chỉ muốn đàm phán với mỗi quốc gia vào một thời điểm riêng rẽ trên cơ sở song phương mà thôi. Ngoài ra, những gì xảy ra ở vùng biển Nam Trung Hoa có ảnh hưởng toàn cầu cũng như quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ.

Tôi đang đề xuất tổ chức một cuộc hội thảo tại Tokyo với sự tham gia của các chuyên gia từ tất cả các quốc gia liên quan nhằm thảo luận vấn đề làm sao phối hợp quản lý khu vực này mà không cần giải quyết vấn đề trọng tâm là tranh chấp lãnh hải, vì theo tôi cuộc tranh chấp này sẽ không bao giờ có thể được giải quyết rốt ráo được.

Các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh mâu thuẫn với Công ước Quốc tế về Luật Biển cũng như tuyên bố của các nước khác, và chính bởi vậy gần như không có cơ hội hóa giải được các tranh chấp đó, trừ khi chấp nhận các điều khoản của Bắc Kinh. Câu hỏi đặt ra là, các quốc gia thường xuyên hoạt động trên khu vực biển Nam Trung Hoa có thể đóng góp gì vào việc quản lý vùng lãnh hải và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

VOA: Có ý kiến cho rằng Hoa Kỳ nên mạnh mẽ thể hiện hơn nữa nhằm ngăn chặn Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng ở biển Đông. Còn ông nghĩ sao, thưa tiến sĩ?

Tiến sĩ Richard Cronin: Tôi nghĩ rằng đối với Hoa Kỳ, có hai quan ngại chính. Một là vấn đề địa chính trị và địa chiến lược. Hai là quyền tự do hoạt động trên vùng biển quốc tế và khả năng hợp tác quản lý tài nguyên, không chỉ liên quan tới việc khai thác dầu khí sâu dưới đáy biển, mà còn cả việc quản lý nguồn hải sản ở biển Nam Trung Hoa.

Các chính quyền tiền nhiệm của Tổng thống Barack Obama từng tuyên bố không nghiêng về phía nào liên quan tới cuộc tranh chấp, và mong muốn các giải pháp hòa bình đối với vấn đề bất đồng và tranh chấp. Nhưng nay thì cả thế giới và khu vực đã có nhiều thay đổi.

Những gì xảy ra ở biển Nam Trung Hoa liên quan tới quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ. Vì thế, giờ không chỉ là sự đúng sai trong các tuyên bố chủ quyền, mà các bên còn cần duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực cũng như không được sử dụng vũ lực để củng cố tuyên bố chủ quyền. Thậm chí, vấn đề này còn liên quan tới quyền lợi toàn cầu trong việc hợp tác quản lý các nguồn tài nguyên ở đó.

Xin cám ơn tiến sĩ Richard Cronin. Nếu Quý vị muốn chia sẻ các câu chuyện cùng thông tin hấp dẫn từ nơi mình sinh sống, xin gửi về địa chỉ: vietnamese@voanews.com. Xin ghi trên tiêu đề là gửi chuyên mục ‘Câu chuyện Việt Nam’. Xin chân thành cám ơn.

No Comments

Thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa_Thư Và Hình Ảnh

February 24th, 2010    Posted in Uncategorized
 
24/02/2010
 

 

Views : 213

 Thưa Quý Vị, Quý NT và CH…Theo tôi được biết vào mỗi dịp Tết Chiến Hữu Nguyễn Tường Thược (PA) vẫn phối hợp với các Anh Thương Binh QLVNCH tại Saigon, để các Anh có cơ hội đi thăm mộ những đồng đội, những tử sĩ của QLVNCH đã vĩnh viễn an nghĩ tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa… Đồng thời CH Thược cũng phối hợp với các Anh Thương Binh và thân hữu tại Saigon để nấu bánh chưng, bánh tét, tặng cho những Thương Binh QLVNCH có món quà nhỏ đón Xuân…

Tôi nhận được từ CH Thược lá thư của một TB gởi, kể chuyến đi thăm mộ các đồng đội và 6 tấm ảnh. Trước đó tôi cũng nhận được 4 tấm ảnh của TB Vũ Quí Phi gởi… nhìn những ngôi mộ được sơn trắng, sạch sẽ hơn…nhưng thật sự không dám tin là thật… (nay qua lá thư mà quý vị sẽ xem) …mới tin, và mừng…

Dù thế nào đi nữa, như thế cũng an ủi được phần nào anh linh những tử sĩ QLVNCH đã vị quốc vong thân.

Tôi xin gởi hai groups hình và lá thư (đã được trình bày lại) đến Quý vị để tường và thẩm định.

KINH ANH T.THUOC
CHIEU HOM QUA 30 TET,EM MOI HOAN THANH PHAN PHOI BANH CHUNG. SANG 27 TET, ANH EM NHAN 132 BANH CHUNG THEO DANH SACH DAU TIEN DUOC CHIA THANH 5 NHOM DA DUOC PHAN PHOI MAU CHONG TRONG 2 NGAY VI MOI KHU VUC DEU CO NGUOI TRUC TIEP PHU TRACH VA HIEU RO DIA CHI CUA TUNG ANH EM .

DANH SACH BO SUNG BANH 33 NGUOI SAU CUNG DEN CHIEU TOI 27 TET MOI CO BANH ,VI VAY DI PHAN PHAT TRE VOI NHIEU LI DO. MAT THOI GIAN DI TIM DIA CHI .MOT SO DIA CHI KHONG DUNG NHU TRONG DANH SACH DA GHI VA MOT SO DIA CHI DA THAY DOI CHU MOI, MOT SO ANH EM VE QUE AN TET TRUOC DO CA TUAN LE. DUONG XA NHUNG NGAY GIAP TET DONG DUC NGUOI DI MUA SAM TET LAM CHAM SU DI LAI.

BIET DUOC TINH HINH QUA CAN NGAY TET SE KHONG KIP NEN CO BICH HA DA DE NGHI, TIM DUOC BAO NHIEU ANH EM THI HAY BAY NHIEU , SO CON LAI TIM NHUNG NGUOI LAO DONG NGHEO MA BIEU CHO HO. CHI CHU LO BANH (MO CUA CO BICH HA) DA GIU LAI 8 PHAN BANH +TRA. CON LAI 25 PHAN, EM TIM DUOC 23 ANH EM,2 PHAN CON LAI CHO NGUOI LAO DONG NGHEO.

HINH CHUP MO SO ANH EM DE TUONG TRUNG , KHONG CO MAY CHUP HINH ,ANH EM PHAI XU DUNG CELL PHONE NEN CHAT LUONG HINH ANH KHONG TOT, CO GANG TUYEN DUOC MOT IT HINH CO THE XEM DUOC. ANH CO THE CHUYEN GIUP MOT SO HINH ANH ANH EM BI THUONG TAT NANG CHO CO BICH HA. CO BH CO Y DINH DUNG NHUNG HINH ANH NAY DE VAN DONG XIN GIUP DO HOAC DIEU CHI DO. THEO LOI BA CHU LO BANH, MO CUA CO BH CHUYEN LAI.

NHAN DAY ,EM XIN THAY MAT CAC ANH EM TPB NHAN QUA TET BANH CHUNG NAM CANH DAN 2010 ,CHAN THANH NOI LOI CAM ON DEN ANH VA CO BICH HA DA VAN DONG KEU GOI UNG HO CHO ANH EM CO DUOC CHUT NIEM VUI QUA TET. 
 
KINH CHAO ANH
EM . . . . .
BMH
Washington, D.C

No Comments

Hèn và Sang

February 21st, 2010    Posted in Uncategorized
 
Tết Hà Nội, đường phố mang cho mình bộ mặt đêm có sáng… đó là Hà Nội hiền lành không buôn bán… không ngìn ngịt người xe, không khói bụi ồn ào và ô nhiễm… Hà Nội tết trong lành như Hà Nội đêm muôn ngày thường… hiền hòa yên tĩnh mong manh yêu thương…
 

 


Mấy hôm được ngủ đẫy mắt làm 1h30 sáng nay mà chưa thể ngủ… Nhắm mắt vỗ về cho cơn mộng mị kéo đến. Để giờ lại thấy đời vẫn còn sung sướng biết làm sao… một giấc mộng đáng sợ về Hà Nội nay trong ký ức xưa nơi không có tiểu thương không cho buôn bán, nhà nhà người người sống trong tiêu chuẩn tem phiếu và bao cấp. Để ngày ngày xếp hàng… xếp hàng ở cơ quan giờ ăn trưa, xếp hàng buổi chiều tan tầm mua rau thịt.. cả xếp hàng chờ nhau trước cửa cái hố xí hai ngăn khi sáng tối…
Ấy là câu chuyện của Hà Nội yêu thương trong thời bao cấp… thời của gi gỉ gì gi cái gì cũng xếp hàng… rau thịt cá đậu, xăng dầu nước sinh hoạt… ôi chao là vân vân những cái khốn khổ khốn nạn. Đầu vào xếp hàng đã đành, đầu ra cũng xếp hàng chờ đến lượt… quan hệ xóm giềng nhiều khi chẳng mấy ưa nhau, nhưng chung cái hố xí cả xóm… giận mãi không lành… đến lúc chạm mặt xếp hàng đi ị thì cực chẳng đã đành phải chào nhau, rồi tám chuyện làm quà… chuyện chồng con rồi chuyện tem phiếu để rồi thông cảm rồi cười rồi xuề xòa cho qua những lặt vặt cũ, những cái lặt vặt mà phần nhiều cũng từ việc xếp hàng với tiêu chuẩn mà ra…

Mấy ngày Tết chỉ ở nhà nên lao động chân tay cho sung sướng đầu óc.. ăn uống xong thì dọn dẹp rửa bát và đổ rác… vui sướng vứt hết các loại túi nilon tích trữ của Mẹ trong ngày thường… dọn dẹp nhà cửa và quần áo… bỏ được mấy bịch lớn nhỏ không mặc đến. Vui sướng như gột được mỡ thừa trong người… Quần áo mua về, quần áo được cho, lành lặn cả, bền đẹp cả… nhưng không mặc đến đơn giản vì không đúng phong cách… thấy mình lãng phí quá… !!! rồi lại hoài niệm về cái thời bé tí.

Cái ngõ đi chung của cả xóm được lợp giấy dầu đen xì để tránh nắng tránh mưa. Giấy dầu đen như nhựa đường, tối om đến mức ban ngày cũng phải thắp đèn cho sáng mới biết lối mà đi.. Hôm ấy cháy bóng, Bé Tí đi học về , trưa nắng đầy ngoài đường mà về ngõ nhà tối thui. Thấy Bác hàng xóm đang lấy thang ra để bắc lên thay bóng điện .. Bác nhờ Bé Tí giữ cho cái thang. Thích nhé vì được nhờ việc công của cả xóm. Vừa giữ thang vừa hát vừa ngó ngiêng xem bác làm gì trên ấy. Mắt bắt gặp cái quần đùi vải Phin của bác loe ra rộng ngoác và xoắn tít thò lò lên . Tò mò buột miệng hỏi : “Bác ơi sao trong quần bác lại có cái gì cong cong như cái cần câu mà còn có cả tóc thế bác???” Vợ bác trong nhà đang ăn mà phun mưa cơm sặc sụa cả trên mâm.. con trai con gái đều lớn cả được trận cười òa òa.. Vì, Thời ấy, vải may quần đùi hay su-chiêng cũng phải chờ tiêu chuẩn, vải xô màn cho chị em phải đợi phân phối.. nên anh em mặc quần đùi đến sờn mòn xoăn tít cũng chưa có cái mới mà thay nói gì đến còn có cả Sịp ở trong như thời nay cho lịch sự. Lấy đâu ra, la liệt những thứ nội y mà người ta gọi sang trọng là “ ân- đơ- goe” cho anh em chị em được ma-nơ-canh mặc, bày ngồn ngộn trong tủ kính cửa hàng cửa hiệu…


Mà, Thời ấy,chị em ăn mặc giống hệt nhau một loại vải, một kiểu áo.. chẳng có khái niệm đụng hàng là gì.. đâm ra chan hòa.. đâm ra giản dị.. đâm ra đỡ nhức mắt và cáu bẳn khi ra đường. Khi bất chợt gặp một hay vài cô nàng ăn mặc nhố nhố nhăng nhăng, hớ hênh, hở hang, kệch cỡm, thiếu văn hóa, thiếu thẩm mỹ, và thiếu tự trọng!!!
Và cũng vì thế mà đâm ra giản tiện được bao nhiêu là bao nhiêu khoản tiêu tiền vô nghĩa – những khoản tiêu pha vô bổ của @ và sành điệu !!!với những cái túi , đôi giày, cái áo, thắt lưng, đồng hồ, điện thoại..tóm lại là những cái cứ gắn được trên người. Tất cả đều phải là hàng hiệu thế giới với những giá trị quy đổi là đô la hay ơ-rô..gì gì đó . Mà chỉ với một món đồ trên người họ thì một gia đình đồng bào dân tộc mình đã có thể sống được cả một năm.. Những thứ mà, khi, không có những dấu hiệu đó, bạn sẽ không được liệt vào danh sách của những Thượng Đế Ăn Chơi Khét Tiếng Hà Nội…

.. Cái bánh trưng bóc ra thấy hơi có mùi chua, bỏ đi. Cái bánh không hợp thời nên vô dụng.. cũng nó, nếu ở thời xưa, thêm hai ngày nữa chưa ai ăn đến và mốc oáng lên thì sau tết người ta vẫn cứ bóc nó ra, gọt hết chỗ mốc đi mà rán lên ăn ngon ngẻ với dưa góp.. chẳng thấy ai kêu đau bụng đau bão đã đành lại còn vui vẻ cả nhà vì không phải bỏ đi cái bánh. Mà không chỉ là bánh, thời ấy chẳng ai dám bỏ đi cái gì.. gạo mốc gạo hẩm hôi xì vẫn ăn. Vo gạo, những con mọt nổi lềnh bềnh, đen chấm mặt nước .Những hạt gạo mục rỗng bên trong bóp nhẹ cái là vỡ vụn , thóc và sạn thì nhiều đến mức phải lom lom mắt ngồi nhặt thật kỹ trước khi đem vo.

Vẫn hơn là không có đủ gạo ăn, vẫn hơn phải ăn cơm độn bột mỳ hay khoai sắn.. Thời đói.. thấy chồng con gầy quá, bà hàng xóm làm y tá bệnh viện thỉnh thoảng lại mang về một thứ đỏ lòm máu trong cặp lồng ăn trưa, tủm tỉm ngồi rửa sạch nơi sân chung với bể nước công cộng trong xóm, trước khi đem về bếp nhà mình – chế biến.. Hàng xóm xì xào bảo nhau: “ nhà ấy ăn nhau bà đẻ nên mặt ai cũng hồng hào”.. khốn nạn đời thế. Cái thời đói ăn cả thịt người cho bổ béo.. khủng khiếp quá !!! Giờ không kể lại sợ 8-9X không nhớ, không biết ngày xưa ..sẽ lại thấy mình khổ ơi là khổ .. chẳng nghĩ ra là mình thèm ăn cái gì.. nghĩ nát hàng vài tiếng xem có cái gì ngon.

…Lại nhớ chuyện đầu năm đi thăm một khu Du Lịch mới trong Sài Gòn, có vườn Thú rất đẹp.. Đủ loại Hổ, Báo, Linh Dươn,g Ngựa Vằn, chim chóc.. con nào con nấy béo mẫm,.. Anh bạn Sài Gòn tình nguyện làm hướng dẫn viên hồ hởi thuê xe cho hai anh em đi xem. Anh vừa chỉ các chuồng nuôi chim thú vừa khoe.. con này anh ăn rồi, con kia anh cũng ăn rồi..và kết luận trong cái giọng điệu đầy tự hào..động vật quý hiếm cái gì mà toàn là thực đơn món nhậu..

Lại chẳng biết đó là sự sang trọng của người này và là sự thiệt thòi của người khác, hay đó chỉ là sự vô nghĩa của xa xỉ. Nhưng trộm nghĩ hôm nay ăn vào mai lại ị ra.. có cái gì đọng trong đầu không nhỉ ??? mà sao ăn ngon thế thì lại Ung thư và Gút nhiều thế ??? Được và mất trở nên chấp chới nhạt nhòa trong ranh giới mong manh của những khế ước mới trong xã hội thời thượng. Trong một xã hội mà với nhiều người lắm tiền nhiều của..đối thoại là sự hội họp với nhau để khoe ăn khoe chơi và cùng nhau ăn chơi , đối thoại là khen chê hàng họ và bàn tán chuyện gái gú đéo lắt.. để rồi cũng những con người đó khi tuổi trẻ qua đi , vẫn họ , lại họp mặt nhau trong quán xá mà chẳng dám ăn gì.. gọi đậu phụ, lạc rang và rau dưa vớ vẩn vì sợ đủ thứ. Sợ bệnh tật, sợ béo, sợ xấu và sợ chết.. tiếc nuối cho cái thời ăn gì cũng thấy ngon.. tiếc cho cái thời xa hơn tý nữa..khi họ có đủ ông bà cha mẹ.Tối tối mùa đông, cả gia đình quây quần bên nhau. Cùng nhau mơ màng về mùi thơm hay sự ngậy béo bùi của một miếng dồi chó đương còn nóng…

… Hà Nội thời nay hiếm thấy người nuôi lợn. Những người đi xin thức ăn thừa cho lợn trên những cái xe đạp. Chiều nào cũng đến nhà lấy cơm thừa và đến cuối tháng thì gửi cho chủ nhà cái chổi, cũng vì thế mà chẳng bói đâu ra. Không có cóng gạ,o nên ngày nào thức ăn thừa cũng phải chiếm chỗ trong những bịch và túi nilon.. cạnh đủ thứ bà rằn rác thải sinh hoạt. Nhớ câu chuyện về món Phèo của đồng bào dân tộc.. Khách miền xuôi ai được quý lắm mới được họ mời ăn… Đồng bào mình ăn giỏi.. cái thứ thức ăn trong dạ dày con Trâu con Bò khi đã chuyển hóa thành phân được 7 phần, cỏ còn ba phần thì đem ra nấu. Nấu xong, Ai được quý, Ai quan trọng thì được múc cho ăn bát to hơn.. Khách miền xuôi cả nể mà ăn món đó, không chết nhưng nhẹ nhất thì là đau bụng đi ngoài một tuần lễ .. Thế nhưng chẳngai có thể trách đồng bào được nhé.. Đồng bào đáng yêu , đói đến Kứt cũng ăn mà lúc nào cũng ca bài ca ơn Bác, ơn Đảng, ơn Chính Phủ . Trách sao cho đặng ???

… Đi đổ rác, thấy hàng bún riêu ngoài cổng, khách thập phương la liệt.. Chị chủ quán nói cười phớ lớ, chợt nhận ra một người que. Anh chàng đẹp trai chủ siêu thị điện máy to đùng đoàng ngay ngã tư Bà Triệu cắt Hai Bà Trưng .. đang hì hụi chan húp, sì sà sì sụp.. vội đi nhanh ra cái thùng rác.. sợ anh chàng nhận ra mình thì ngượng.. ăn bớt cả ngon thì sao..TỘI NGHIỆP !.. nhiều món ăn quá.. ăn mãi ăn mãi cho đến lúc nhận ra.. giản dị bún riêu cua đồng mà tấm ta tấm tắc, nắc na nắc nỏm, ăn chẳng ngẩng được mặt lên nhìn ai..Lại lẩm cẩm nghĩ.. thời bao cấp tởm thế thôi mà nhiều đôi khi cũng hay đáo để !!!

Hang Nguyen
xahoimang
 
Share:
No Comments

Thế giới mới, thời cơ mới, con đường đấu tranh mới

February 21st, 2010    Posted in Uncategorized

Thế giới mới, thời cơ mới, con đường đấu tranh mới


Tạ Dzu, X-Cafevn

20.02.2010

Thời gian gần đây, càng ngày càng có nhiều tiếng nói và bài viết, cổ động cho một hướng đấu tranh mới, nhằm tìm ra bước đột phá trên chính trường VN, vốn đã bế tắc từ 35 năm nay chỉ vì cách nhìn, tư duy khác biệt của chúng ta về nhau.

Bài viết này mong được đóng góp một vài suy tư trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới nhằm thúc đẩy con dân Việt hãy khôn ngoan, dũng cảm hành động, dám vượt lên dư luận và chiến thắng chính mình để tiến lên.

Thế giới mới ở đây là gì?

Bắt đầu từ thập niên 80 của thế kỷ trước, thế giới đã từ từ chuyển hướng và bước những bước tiến ngoạn mục, từ kỹ thuật, kinh tế đến chính trị và văn hóa.

Chúng tôi chỉ xin nhắc sơ lại những điều mà ai cũng rõ để dễ dàng nhận ra sự chuyển hướng tốt đẹp này. Mong rằng VN sẽ nắm bắt kịp thời các chuyển đổi đó mà vươn vai Phù Đổng sừng sững đứng lên, bước đi bằng những đôi hia vạn dặm, chắp đôi cánh mới cho VN cất cánh bay bổng, bay xa, bay cao và bay nhanh nhằm bắt kịp thế giới, đẩy lùi những u mê tăm tối và tụt hậu kéo dài đã quá lâu.

Vi tính và mạng lưới toàn cầu đã đưa nền kỹ thuật thế giới sang một khúc quanh mới, được nhiều người coi là cuộc cách mạng kỹ nghệ, sau những cuộc cách mạng trước đó bởi các phát minh về in ấn, máy hơi nước, điện và điện thoại. Vi tính và mạng toàn cầu đã tiết kiệm được rất nhiều nhân công, thì giờ và tiền bạc cho cùng một công việc so với một vài thập niên trước đây. Cùng lúc, các mạng lưới này cũng góp phần mạnh mẽ vào những chiến thắng của các cuộc tranh cử gần đây, đáng chú ý nhất là cuộc tranh cử giữa Obama và Mc Cain, cũng như cuộc tranh cử ở Iran. Tại VN, cũng cùng một hình thức tương tự như thế (tin nhắn điện thoại, texting) đã góp phần vào sự nhanh chóng huy động công nhân biểu tình chống bóc lột do tư bản ngoại quốc cấu kết với tư bản đỏ VN, cũng như các cuộc biểu tình chống Trung Cộng mà chúng ta từng chứng kiến. Chưa hết, mạng toàn cầu đã giúp nhân dân VN mở rộng tầm nhìn hơn, thấy rõ hơn nghĩa vụ đối với đất nước và quyền lợi của mình đáng lẽ đương nhiên được hưởng nhưng đã bị đảng CSVN ngăn cản, khiến họ ý thức trách nhiệm mà tự động và hăng hái đứng lên đòi lại quyền lợi cho toàn dân.

Về mặt kinh tế và văn hóa, thế giới đang cố gắng tiến đến một nền kinh tế đa quốc gia và toàn cầu hóa, về lâu về dài sẽ có lợi cho tất cả, được bảo đảm bởi những hiệp ước kinh tế và thương mại/văn hóa, dẹp bỏ thuế quan hoặc hạ thấp thuế suất đánh vào hàng hóa nhập khẩu, nhằm cho hàng hóa lưu thông nhanh hơn, dễ dàng hơn, tạo ra nhiều công việc, thúc đẩy kinh tế thế giới ổn định và tiến mạnh hơn nữa.

Thêm vào đó, thế giới đã tiến vào tình trạng “kết khối,” (thành lập block), như khối Thị trường chung Âu Châu, biến thành khối kinh tế Âu Châu bao gồm cả những nước CS cũ, dùng chung một đồng tiền euro. Hoa Kỳ, Canada và Mexico thì thành lập khối Bắc Mỹ. Tại Á Châu, ASEAN đang cố gắng hoàn thiện khối này và có thể mở rộng ra hơn. Các nước ven bờ Thái Bình Dương cũng manh nha thành lập khối mới.

Thế giới đang đi vào chiều hướng “kết khối,” “cùng sống, giúp tiến” như cụ Lý đã viễn kiến từ những thập niên 40, 50 của thế kỷ trước.

Song song với kinh tế toàn cầu hoá là văn hoá toàn cầu hoá, nơi mỗi quốc gia đều đóng góp phần mình vào nhằm làm phong phú cho vườn hoa văn hoá thế giới, mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc, nhằm tránh một “thế giới đại đồng” theo kiểu CS.

Về mặt chính trị, cũng từ hậu bán thế kỷ trước, nhiều dân tộc đã cố gắng dân chủ hoá thể chế chính trị quốc gia mình: Á Châu từ Phi, Thái, Cam Bốt, Nam Dương, đến Hàn Quốc, Đài Loan, Nga Sô; Âu Châu là loại trừ CS; Nam Phi cũng chối bỏ chế độ nô lệ để tiến đến dân chủ tự do. Trong cuộc chiến A Phú Hãn và Irắc, dù do động cơ nào đi nữa, cũng phải công nhận ý chí dân chủ hóa hai quốc gia đó của HK lồng trong cuộc chiến. Chỉ có lợi cho các bên và cho thế giới mà thôi.

Thế kỷ 20 là thế kỷ của “bài Phong đả Thực.” Thế kỷ 21 là thế kỷ của “Tự do, Dân chủ và Nhân quyền” mà toàn thế giới đang theo đuổi.

Bối cảnh mới của VN là gì?

Khi đảng CSVN thống nhất đất nước tháng 4 năm 1975, vai trò lịch sử của họ đối với dân tộc cũng chấm dứt từ đó.

CS chỉ giỏi đạp đổ mà không hề biết xây dựng, nên không tạo được hậu thuẫn của toàn dân. Kết quả là không thể phát triển và bảo vệ đất nước thành công như chúng ta đã thấy.

CSVN đã thống nhất đất nước nhưng không thống nhất được lòng người. Vai trò lịch sử của họ vì thế, đương nhiên cũng không còn. Những cố gắng vá víu nửa vời như ta thấy lâu nay là hoàn toàn thất bại. Chế độ và chủ nghĩa CS không thể sửa chữa, chỉ thay thế mới có thể xây dựng và phát triển. Nếu CS biết hồi tâm trở về cùng dân tộc, một vài công lao của họ như kháng chiến chống Pháp và công cuộc chấm dứt sự cai trị của Pháp ở VN là còn có thể được dân tộc công nhận.

Về phía quốc gia thì sao? Dù biện luận thế nào, chế độ VNCH cũng do “đế quốc” dàn dựng mà không phát xuất từ trong lòng dân tộc, nên cũng không huy động được sự đóng góp của toàn thể dân chúng miền Nam bảo vệ đất nước. VNCH “xui xẻo” mang tiếng là sản phẩm của ngoại bang nên đánh mất chính nghĩa, dù rằng đã cố gắng bảo toàn những giá trị còn lại của dân tộc để không bị chà đạp tan vỡ hẳn như ở miền Bắc. Tuy nhiên, những cố gắng này không phù hợp với quyền lợi của “thế giới tự do,” đại diện là HK, nên cuối cùng Tây phương đã nhẫn tâm dẹp bỏ miền Nam không chút thương tiếc.

Đây là bài học cực kỳ đắt giá cho con dân Việt. Chúng ta, toàn thể nhân dân ở cả hai miền Nam Bắc đã không dựa vào tình tự dân tộc như cha ông trước kia mà đấu tranh. Cả hai đều đã dựa vào ngoại bang mà muối mặt gà nhà bắn giết lẫn nhau! Còn oan nghiệt nào hơn cho dân tộc ta không?

Trong cuộc chiến vừa qua, ai thắng không biết, nhưng cả dân tộc VN đều chịu thiệt thòi, đều phá sản hoàn toàn, từ vật chất đến tinh thần, chưa biết bao giờ mới có thể hồi phục lại.

Tại sao 35 năm nay chúng ta không ngồi lại được với nhau?

Vì nhân dân cả hai miền đều đã hy sinh chết chóc như nhau cho hai lý tưởng, hai chế độ mà mình dày công gây dựng. Nó bi thương, bi tráng, và cũng bi hài quá. Hầu hết gia đình nào chẳng có người nằm xuống cho lá cờ và lý tưởng phe mình?

Điều bi hài ở đây là cả hai lá cờ đều cùng mầu sắc, cũng đỏ cũng vàng, chỉ khác nhau về hình thức mà anh em bắn giết nhau chí chết, và ai cũng nhân danh vì dân vì nước để miệt mài phấn khởi đâm chém nhau! Niềm bi thương của dân tộc và của Mẹ VN nằm ở chỗ đó.

Vậy làm thế nào để hai bên đều có thể đóng góp tích cực cho dân cho nước?

Có hai phần: tình cảm và lý trí chúng ta phải bàn đến.

Về mặt tình cảm, hãy để những hận thù, ghét bỏ, chối từ nhau, tạo ra bởi cuộc chiến vừa qua
đằng sau lưng mà cùng nhìn về phía trước. Hãy tìm cách xây dựng lại niềm tin và tình yêu thương của bọc mẹ trăm con, lấp đầy và thay thế những oán ghét, thù hận trong lòng người, mới mong cùng nhau góp sức xây đắp quê hương.

Về mặt lý trí, nếu chúng ta còn tiếp tục đưa ra lý lẽ phe anh/phe tôi, quốc gia/công sản, là còn gặp bế tắc, là còn đối đầu hủy diệt chứ không đưa đến hợp tác xây dựng.

Quần chúng thầm lặng, hay còn gọi là “đáy tầng quốc dân” của hai phe từ thời CS mở cửa 1986, đã “hoà hợp hoà giải” vui vẻ làm ăn buôn bán, thăm hỏi nhau từ lâu, trong khi trên mặt tầng, cả chính quyền CS và các tổ chức chính trị người Việt hải ngoại đều chậm bước, không theo kịp đáy tầng quốc dân đang cuồn cuộn dâng trào như thác đổ, sẽ cuốn phăng những kết hợp dối trá, những cố gắng trái chiều với xu thế mới trong lòng dân tộc để hình thành một lực lượng mới, một con đường mới cho quê hương: Con đường dân tộc.

Chỉ ở “tổ chức” dân tộc này, mới bao dung đủ để kết hợp tất cả, cho mọi người, mọi phe phái, mọi chính kiến khác nhau có thể cùng ngồi mà nói chuyện hợp tác và xây dựng.

Đây đó, trong ngoài đã có những lên tiếng, mong ước một sự hợp nhất con dân Việt mà phát triển đất nước, nhưng chưa đủ mạnh và cũng chưa có “chốn dung thân” thích hợp nào cho mọi người tìm về ngồi lại bên nhau, chia sẻ cùng một giá trị tinh thần như nhau.

CS cũng không làm nổi. Quốc gia cũng không làm nổi. Vì cả hai đều không xuất phát từ trong lòng dân tộc. Có cố gắng kết hợp cũng chỉ khiên cưỡng mà thôi, sẽ không có thực chất.

Vì vậy, toàn dân đang trông chờ một xu thế mới, một kết hợp mới đặt căn bản trên tình nghĩa anh em một nhà, bọc mẹ trăm con, mới quy tụ được toàn dân, tổng hợp được sức mạnh tiềm tàng của dân tộc mà xây dựng và bảo vệ bờ cõi.

Hồn nước đang vi vu vọng về từ muôn phương, vang động cả núi rừng VN, hối thúc chúng ta phấn khởi và khẩn trương lên đường.

Ai sẽ là những con dân đầu tiên hiên ngang sắn tay áo lên tiến bước, dám vượt lên dư luận, vượt lên chính mình mà can đảm hành động?

Người đó/tổ chức đó sẽ được toàn dân tin tưởng và hăng hái đi theo

No Comments

Tổng kết chủ đề: “X-cafevn tin rằng thanh niên trong hay ngoài nước đều có thể đóng góp ngang nhau cho Việt Nam”.

February 19th, 2010    Posted in Uncategorized

4Neu, X-Cafevn

Số phiếu tán thành: 61%.
Số phiếu phản đối: 39%.
Tổng số phiếu tham gia: 28.
Số bài phản hồi hợp lệ: 47.
Số lượt xem: 2.410.

Mở đầu cho buổi thảo luận, thành viên 4Neu trình bày ý kiến ủng hộ chủ đề. (1) Bạn Nếu đưa ra ví dụ về khoa học rằng Ngô Bảo Châu sinh ra và lớn lên tại VN, nhưng không thể nào đạt được đến đỉnh cao toán học nếu anh tiếp tục con đường nghiên cứu ở trong nước mà không đi sang Pháp để làm việc. Chính bằng việc xuất ngoại, NB Châu đã tự nâng tầm vóc của mình và đóng góp lớn cho toán học hiện đại. (2) Về nghệ thuật, giới trẻ tại nước ngoài, mà điển hình là Nguyễn Cao Kỳ Duyên của Trung Tâm Thúy Nga, đã

có công lớn cho nền âm nhạc Việt trong suốt mấy chục năm qua. Trong khi các chương trình âm nhạc trong nước thường là nghèo nàn và tẻ nhạt thì Thúy Nga Paris luôn là một điểm sáng và tiêu chuẩn về trình diễn cho giới ca nhạc sĩ trong nước noi theo. (3) Dù ở xa nhưng người Việt ở hải ngoại cũng không quên hướng về đất nước: thành lập hội từ thiện giúp đỡ đồng bào bão lụt, trẻ em nghèo khuyết tật. (4) Nguồn kiều hối gởi về VN mỗi năm lên đến gần chục tỉ đô la Mỹ đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế nước nhà vốn luôn luôn nhập siêu và thiếu ngoại tệ. (5) Ngay X-cafe cũng có sự đóng góp lớn của thanh niên. Nhiều thành viên X-cafe đã viết rằng họ cảm thấy diễn đàn này, với tiêu chí “Tôn trọng sự khác biệt”, đã mở rộng tầm nhìn của họ, giúp họ có cái nhìn thiện cảm hơn với các người có ý kiến khác mình. (6) Về biên giới và hải đảo, Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông với nhiều thanh niên đã có nhiều công trình nghiên cứu, vẽ bản đồ, đề xuất ý kiến, tham gia phản biện, viết bài nâng cao nhận thức… Tất cả việc làm của họ đã giúp người dân VN nhận ra vấn đề thực tế hiện nay về biển đảo của nước nhà ra sao, và tương lai sắp tới trên biển Đông sẽ như thế nào. Những người đồng tranh lứa của họ ở trong nước khó mà thực hiện nhưng công việc như vậy. Thanh niên trong nước có thuận lợi lớn mà ở hải ngoại không có được, đó là họ có một số lượng đông đảo, và có thể tiếp cận với các vấn đề ở trong nước nhanh hơn, đặc biệt là các vấn đề không mang tính nhạy cảm chính trị. Là lực lượng lao động trực tiếp tại Việt Nam nên sức lao động của họ đã đóng góp to lớn và trực tiếp cho nền kinh tế nước nhà. Thanh niên hải ngoại có các lợi thế mà thanh niên trong nước không có, và ngược lại, thanh niên trong nước có lợi thế mà thanh niên hải ngoại không thể nào làm được. Như tay trái và tay phải, họ mỗi người một tay đóng góp cho Việt Nam ngày càng phát triển hơn.

Thành viên myway có ý kiến rằng tại sao thanh niên trong/ngoài nước chưa thực sự được tận dụng tối đa cho phát triển đất nước? Bạn myway cho là cần tìm ra gốc của vấn đề, rào cản nào cản trở nó. Không ít thanh niên đi du học có tâm lý không muốn hồi hương, hay xét trên góc nhìn cục bộ, thanh niên thường có xu hướng “thoát”. Cụ thể hơn: du học sinh có xu hướng thoát Việt, sinh viên trong nước có xu hướng bám trụ thành phố, dẫn đến ngay tại trong nước, sự phân bổ tri thức cũng gián tiếp tạo nên những hố giàu – nghèo… Khi đọc những tựa đề: “Một người gốc Việt được cử làm Bộ trưởng Bộ Y tế Đức”, “Người gốc Việt làm phó cảnh sát trưởng San Jose”, “Người gốc Việt đầu tiên làm thẩm phán liên bang tại Mỹ”… người Việt không thể không có chút gì đó tự hào về tố chất người Việt. Nhưng tại sao trí thức Việt trên thế giới ít có đóng góp trực tiếp cho trong nước? Bạn myway cho rằng rào cản chính trị (Cộng sản) là quan trọng. Thử bỏ qua yếu tố lợi ích tương tác do xây dựng xã hội mang lại, cách giải quyết nào cho rào cản chính trị để người Việt/ thanh niên Hải ngoại chịu cống hiến xây dựng đất nước Việt Nam khi mà họa Trung Quốc “đồng hóa”, trở lại “cai trị” VN đang dần rõ ràng.

Thành viên Tu Lai cho là chủ đề chỉ cần chứng minh phần “thanh niên ở nước ngoài cũng đóng góp”, vì thanh niên ở trong nước thì dĩ nhiên thông qua những việc hàng ngày đã đóng góp được rồi. Bạn Tu Lai phát biểu nếu đã là người có lòng nghĩ về đất nước, thanh niên ở ngoài nước vẫn đóng góp được cho đất nước ngang bằng với thanh niên ở trong nước vì lý do: (1) Trước hết, về nước anh/chị ta có được sử dụng đúng năng lực không? (2) Về làm gì khi sẽ bị chán nản với môi trường làm việc và lại cũng một đi không trở lại. Trong khi ở ngoài nhưng nếu tấm lòng vẫn hướng về đất nước anh/chị ta vẫn có thể đóng góp năng lực của mình. Thí dụ: Lê Minh Phiếu (và các anh chị khác) học Luật mở một trang web “dạy” nghề này theo tiêu chuẩn nước ngoài, cho những sinh viên Luật không có điều kiện ra nước ngoài. VN hiện nay rất cần được đầu tư vào giáo dục bằng mọi cách có thể.

Thành viên myway đồng ý với Tu Lai và đưa thêm ý kiến. (1) Xét về lý thuyết khả năng đóng góp của thanh niên hải ngoại cho xây dựng đất nước và thanh niên trong nước là ngang nhau, nếu không muốn nói là thanh niên hải ngoại chất lượng hơn. Có nhiều nguyên do, nhưng nguyên do cơ bản nhất vẫn nằm ở chỗ – điều kiện cần là thanh niên (trong nước và ngoài nước) có sự nhiệt tâm đóng góp đã có. Điều kiện đủ là: xã hội/môi trường/chính quyền trong vai trò cầm lái có “thiện chí” khích lệ nó hay không là 1 câu hỏi khó trả lời, khi mà một môi trường đơn giản cho tương tác kiến thức như x-cafe, danluan hết bị firewall đến DOSs, (2) “Rào cản” là điều cản trở lớn nhất hiện nay: cơ chế, lợi ích tương tác, mâu thuẫn chính trị…mà gần như số đông thanh niên (nhất là những người sinh ra và lớn lên ở hải ngoại) khi có thời gian sống ở 1 xã hội dân chủ, họ rất khó “tiêu hóa” môi trường, xã hội, và các “sinh hoạt” chính trị ở Việt Nam, nhưng nói thế không phải để trách chính quyền CS, hay phủ nhận công sức của rất nhiều thanh (trung) niên hải ngoại. Bạn myway cho rằng: về đóng góp cho đất nước, thanh niên trong và ngoài là như nhau, cái khác nhau chỉ là hình thức biểu hiện nó và sự chênh lệch nếu có chỉ nằm ở “điều kiện được tham gia đóng góp”.

Thành viên unknown-unknown góp ý cho cách đặt tên chủ đề, rằng chủ đề được đặt ra hết sức mơ hồ, nên trả lời đúng hay sai gì cũng đều “đúng hay sai.” (1) Lượng đóng góp: Thảo luận đang nói về tổng giá trị (total value) hay giá trị trung bình cho mỗi cá nhân là thanh niên (average value?). Nếu so sánh tổng giá trị thì thanh niên VN đóng góp nhiều hơn, nhưng nếu tính trung bình thì thanh niên ở HN sẽ đóng góp nhiều hơn. (2) Giá trị thực của đóng góp: Mỗi cá nhân chỉ được gọi là đóng góp khi người đó tạo ra sản phẩm cho xã hội (tangible or intangible) có giá trị cao hơn mà cái người đó nhận được (hay tiêu dụng) từ xã hội. Nếu tính theo cách này, thì chắc chắn là thanh niên ở hải ngoại sẽ đóng góp cao hơn thanh niên trong nước, bởi đa phần thanh niên hải ngoại chẳng nhận được ích lợi gì từ VN nhưng đóng góp cho VN thì hầu như benefit VN 100%. Trong khi đó, sự đóng góp cho xã hội của thanh niên trong nước = giá trị sản phẩm làm ra – tiêu dụng, xem ra là rất ít nếu không muốn nói là thâm hụt.

Thành viên Tú Dza gợi ý rằng chủ đề nên được đổi để rõ nghĩa hơn: Thanh niên trong/ngoài nước đều có quyền đóng góp ngang nhau cho đất nước”. Bạn Tú Dza cho là vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có cơ hội/được tạo cơ hội để đóng góp hay không? Nếu không, hay điều kiện bị giới hạn, thì làm sao tranh đấu để mọi người đều có cơ hội đóng góp? Trí thức chân chính ở mọi thời đại, đều mong đóng góp cho dân cho nước, chứ tuyệt nhiên không hề muốn “đóng góp” cho riêng một đảng phái nào. Đảng phái, thực ra, chỉ là phương tiện để trí thức dựa vào đó mà đóng góp, xây dựng cho đất nước mà thôi, không phải là mục đích. Cứu cánh của sự phục vụ là dân tộc và tổ quốc.

Thành viên unknown-unknown hỏi thêm rằng thật sự ra, thanh niên ở hải ngoại là ai và tại sao họ phải cần đóng góp cho VN? Đặt tiêu đề như thế có nghĩa rằng thanh nhiên ở hải ngoại phải có trách nhiệm đóng góp cho VN, mà vô hình chung thì đóng góp giúp cho dân thì ít, mà củng cố cho chế độ cai trị thì nhiều. Nhưng gạt qua chính trị một bên, thanh niên VN hải ngoại thuộc lứa tuổi 18-30 trở xuống, thì đa phần là đã lớn lên từ nhỏ hay sinh ra ở nước ngoài, thì họ không có quyền lợi gì từ VN. Và bởi không có quyền lợi, thì họ cũng chẳng có nghĩa vụ gì phải đóng góp cho VN. Thanh niên hải ngoại chỉ có nghĩa vụ (theo cả hai nghĩa legal obligation and moral obligation) đối với đất nước sở tại mà họ đang sống. Chỉ có thanh niên VN trong nước thì cần phải đóng góp cho VN, bởi đó là nơi họ có quyền lợi hiện tại và tương lai… Cho nên, nếu thanh niên ở hải ngoại không có đóng góp một đồng xu nào cho VN, thì cũng không thể ai dùng sự so sánh ai đóng góp hơn cho VN để chê thanh niên VN ở hải ngoại đóng góp ít hơn thanh niên trong nước.

Thành viên Rsaigon cho rằng đa số thanh niên trong hay ngoài nước đều chẳng nghĩ tới chuyện đóng góp cho đất nước. Đa số chỉ nghĩ làm sao có thể tiếp tục học, kiếm nhiều tiền… Rsaigon hỏi những người ở hải ngoại nghĩ xem bao nhiêu lần trong thời thanh niên (thời bình) họ nghĩ về đất nước, quê hương? Sống ở hải ngoại thì lo học hành, đi làm, trả tiền… sống ở VN thì cũng vậy, nếu “hó hé, góp ý” thì có ngày bị đuổi học, hoặc gỡ lịch. Theo Rsaigon, cái cần là làm sao thuyết phục tuổi trẻ trong nước sống có trách nhiệm (tìm hiểu về chính trị nghiêm túc) thì sẽ giúp ích đất nước. Và, kêu gọi thanh niên hải ngoại đóng góp ý kiến, kiến thức, kinh nghiệm… cho quê hương. Rsaigon muốn rằng làm sao cho thanh niên trong nước quan tâm nghiêm túc tới chính trị và hiểu rằng yêu nước, sống trách nhiệm là phải tìm hiểu về chính trị.

===

Còn nhiều ý kiến khác trong cuộc thảo luận này, các bạn quan tâm có thể xem thêm tại đây: http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=35783

Xin cảm ơn các thành viên đã đóng góp. Buổi thảo luận tuy ngắn nhưng đã được nhiều ý kiến đóng góp có giá trị. Xin hẹn gặp lại tất cả trong buổi thảo luận tiếp theo vào tháng 3/2010.

Chúc mừng năm mới!

No Comments

Phép nói và viết Hỏi Ngã

February 6th, 2010    Posted in Uncategorized
Phép nói và viết hỏi ngã In E-mail
06/02/2010
 

 

Views : 62

 Phân nửa người Việt Nam, từ Thanh Hóa trở ra, về phương diện hỏi, ngã, nói và viết rất đúng, còn một phân nửa, từ Nghệ Tĩnh trở vào, nói không phân biệt hai thanh này và viết rất lầm. Sự trộn lộn hai thanh này thành một sẽ là một việc làm cho tiếng Việt nghèo nàn thêm, và làm cho lắm câu thành tối nghĩa. Người có ý thức không ai dám chủ trương một việc nông nổi như vậy.

 Mà phân biệt hai thanh, khi nói và viết, đối với người đàng trong, là một một vấn đề to: vấn đề hỏi ngã.

Mấy năm nay, đã có nhiều người nghiên cứu vấn đề này và đưa ra một luật, mà chúng tôi xin gọi là luật Nguyễn Đình, để nhắc nhở người đã nêu nó ra trước nhất. Cái hay – và cũng là cái dở – của luật Nguyễn Đình là để cho người đã khá giỏi tiếng Việt dùng được mà thôi. Đối với kẻ thiếu học, thì công dụng của nó rất ít.

Lại giá trị của luật ấy chỉ ở trong phạm vi chính tả. Người đàng trong, dầu cho đã thạo rồi, cũng không sao nói đúng được.

Muốn giải quyết đến cội rễ vấn đề này, ta hãy nghĩ xem: tại sao người đàng ngoài, dầu chẳng biết luật Nguyễn Đình, vẫn nói đúng và viết đúng hỏi ngã? Ấy bởi vì từ thuở mới học nói, họ đã nghe chung quanh họ, hai thanh này phân biệt rõ ràng. Vậy phương pháp của âm học, đối với mỗi người, và áp dụng cho tất cả, sẽ thành phương pháo giải quyết được vấn đề đến triệt để.

Dầu ta có thạo thông lệ này, hay thông lệ nọ, mà ta nói vẫn sau, thì trẻ em nghe ta nói sai, sẽ nói sai, ắt là vấn đề hãy còn mãi.

Việc đánh dấu đúng, tuy là cần chỉ là gáo nước để tưới trận lửa to, làm sao mà trừ đám cháy được? Còn nếu ta nhờ các thông lệ làm phương tiện riêng để phân biệt hỏi, ngã, hầu nói đúng, thì thế hệ sau nghe ta nói đúng, sẽ nói đúng. Rồi ít lâu, ở toàn cõi Việt Nam, sẽ không còn vấn đề nàỵ Chúng tôi soạn tập sách vấn đề giải quyết vấn đề hỏi ngã. Khi ai nấy đã nói đúng và viết đúng cả rồi, vấn đề sẽ không còn, sách sẽ hết cần, hóa thành vô dụng. Nên lòng cầu nguyện là được một ngày gần đây, sách sẽ không được dùng nữa, và chỉ dành cho những kẻ khảo cứu tài liệu lịch sử xem chơi mà thôi.

LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC TIẾNG NÀO HỎI TIẾNG NÀO NGÃ

Phương Pháp Tự Nhiên

Khi ta biết cách nói rồi, muốn có thể phân biệt tiếng nào hỏi, tiếng nào ngã, thì nên theo phương pháp tự nhiên hơn hết, là học.

Phương pháp này đã đem lại những công hiệu rõ ràng. Nhiều người ngoại quốc, tuy nói tiếng Việt rất khó khăn, song đã chịu khó học cẩn thận rồi, thì nói, viết rất đúng hỏi ngã. Nhiều người đàng trong, chịu khó học, cũng nói được viết đúng như người đàng ngoài. Mà bằng chứng đích xác hơn hết là, cả một cõi Bắc Việt, ai cũng nói đúng nhờ học từ thuở bé ở nơi chung quanh mình.

Cái may của người đàng ngoài, là sự học này là một cái học thường xuyên, trong mỗi lúc nghe nói, trong mỗi lúc nói, mà người học thấy cực nhọc hay để tí công cố gắng nào. Chung quanh mình, cha, mẹ, anh, chị, bè, bạn, lối xốm, thảy là người thầy sẵn sàng dạy mình, và lại những ngưòi thầy dạy đúng phương pháp tự nhiên. Kết quả là lên năm, lên sáu tuổi, đứa bé đã học xong rồi, đến trường khỏi phải trở lại vấn đề.

Cái rủi của người đàng trong là không có trường học tự nhiên ấy. Ngay nhà trường chính quy cũng vẫn là một lớp học thiếu sót về vấn đề này. Thầy giáo nào có công, cũng chỉ dạy cho học trò đánh dấu đúng, khi viết. Chúng tôi chưa hề gặp một thầy giáo nào ở đàng trong đã dạy học trò nói thanh ngã, thanh hỏi bao giờ. Và cũng chớ nên trách họ, vì chính họ còn chưa nói được thay!

Vậy cần phải học, tuy trong những điều kiện khắt khe hơn, nhưng phải cố tìm tạo ra một hoàn cảnh gần như tự nhiên, và dõi theo một phương pháp tự nhiên. Hoàn cảnh ấy, là một nhóm người biết cố gắng nói đúng, viết đúng hỏi, ngã. Phương pháp ấy, là nên học thuộc lòng, không khác nào trẻ con mới học nói phải thuộc tiếng mới, không khác nào người ngoại quốc học nói phải học thuộc tiếng lạ.

Trong khi nói chuyện, nếu phải dừng trước một tiếng để suy nghĩ nên nói thanh nào, thì làm sao cho lời được suôn, lại còn nói chi đến việc trổ tài hùng biện? Trong khi viết, nếu phải dừng mỗi lúc để suy nghĩ nên đánh dấu nào, thì làm sao chép kịp lời của người, hay ghi cho kịp nguồn hứng của mình?

Học phải chọn sách. Học về hỏi, ngã, không có gì qua từ điển, tự điển, tự vi. Những người có tiếng là viết đúng chính tả, như Phan Khôi, Phan Văn Hùm, thường thú nhận rằng không có dụng cụ nào hơn là tự điển để tra cứu, mỗi lần trí nhớ của họ hơi lờ mờ. Ngày nay, những từ điển, lấy tiếng Việt làm nền để cắt nghĩa và điển chế tiếng Việt, thật là khó tìm. Một vài quyển hãy còn lưu hành, nhưng lại rất cẩu thả về vấn đề chính tả.

Học trong tự điển là một việc rất mau chán. Vì vậy mà cần có một lối học mau lẹ, lại có nhiều kết quả. Lối học thực tiễn này dựa vào những nhận xét sau đây:

Trong tiếng Việt, tiếng thanh hỏi nhiều hơn tiếng thanh ngã. Vậy ta học trước hết những tiếng thanh ngã, ắt ít tốn công hơn. Còn tất cả những tiếng nào thừa lại, là to cho thanh hỏi.

Trí nhớ muốn được chắc chắn, cần nên vận dụng tất cả các cơ quan, tai nghe, mắt nhìn, tay viết. Phần lỗ tai đã được chú trọng rồi. Còn nên cho quen mắt, bằng cách đọc kỹ và nhiều những sách đánh dấu đúng, những bản viết tay đánh dấu đúng. Và nhất là tập đánh dấu cho quen mắt, quen tay như người đàng ngoài, dấu hỏi rõ ràng vẽ hình kéo xuống, sau khi đã vòng tròn, dấu ngã rõ ràng kéo lên, sau khi đã vòng tròn. Tay, mắt, tai hiệp nhau làm cho phần máy móc của trí nhớ được vận dụng đầy đủ, thì sự nhớ càng chắc.

Rồi cũng phải làm cho phần thông minh của trí nhớ làm việc, để tập luyện và để củng cố những điều đã học được với một cách máy móc. Vậy cần phải suy nghĩ, để tìm cái lý của sự việc (nghĩa là cái lẽ vì sao phải đánh dấu ngã) và những liên quan của các việc. Đây là một công cuộc đòi lắm hiểu biết. Vậy xin xét ở chương sau.

Phương pháp bác học

Phương pháp bác học này đòi hỏi nhiều hiểu biết về ngữ âm học, để áp dụng những định luật sự biến di của âm thanh, và về từ nguyên học, để tìm tòi gốc rễ của mỗi tiếng.

Ngữ âm học và từ nguyên học là hai khoa rất khó. Ở Âu Mỹ, vào trường đại học, người ta mới khởi sự cho học các khoa này, còn từ bực trung học trở xuống, chỉ nói cho biết thoáng qua thôi. Mà khi đã học xong rồi, phải có óc tìm tòi, khiến suy diễn mới tự mình khảo cứu thêm được. Vì vậy mà phương pháp bác học được nhắc đến sau đây không phải để cho ai cũng dùng được.

Đối với tiếng Việt, hai định luật sau đây của ngữ âm học giúp cho chúng ta rọi nhiều tia sáng và vấn đề hỏi ngã:

Những âm thanh thường có xu hướng có gần tính chất với những âm thanh đi cặp với mình. Ấy là 

luật thuận thinh âm

Những âm thanh thường biến chuyển ra những âm, thanh có gần tính chất với mình.

Ở đây không phải là để khảo cứu về ngữ âm học, nên xin phép không dừng lâu nơi hai luật này, mà chỉ áp dụng chúng nó vào vấn đề hỏi ngã mà thôi.

Do theo sự khảo cứu ở phần thứ nhất, ta thấy rằng thanh hỏi ở vào bực nhất, ta thấy rằng thanh hỏi ở vào bực bổng. Vậy luật thuận thinh âm mách cho ta biết rằng nó thường  đi cặp với những thanh hỏi, ngang, và sắc

 là những thanh gần tính chất với nó. Ví dụ như:

Hỏi đi cặp với hỏi: bẩn thỉu, mỏng mảnh
Hỏi đi cặp với ngang: thẩn thơ, mơn mởn
Hỏi đi cặp với sắc: khỏe khoắn, lấp lửng

Còn thanh ngã ở vào bực trầm, gần với những thanh huyền, nặng. Vậy luật thuận thinh âm mách cho ta biết rằng nó thường đi cặp với những thanh ngã, huyền, nặng là những thanh có gần tính chất với nó. Ví dụ như:

Ngã đi cặp với ngã: bãi hãi, lẽo đẽo
Ngã đi cặp với huyền: bão bùng, hiền ngõ
Ngã đi cặp với nặng: nhão nhẹt, chậm rãi

Nếu đảo ngược tính cách trên, chúng ta có thể nêu được cái thông lệ thực tiễn để tìm tiếng nào có thanh ngã (luật Nguyễn Đình)

Tiếng có thanh ngã là những tiếng đi cặp với tiếng thanh ngã, nặng hay huyền

Tuy nhiên, thông lệ này có rất nhiều ngoại lệ. Độc giả sẽ thấy rằng số ấy không phải là ít, và phương pháp bác học, tuy đòi hỏi rất nhiều hiểu biết và suy nghĩ, vẫn không bằng phương pháp tự nhiên.

Khoa từ nguyên học, áp dụng vào tiếng Việt, cho ta biết rằng những tiếng họ hàng, hoặc biến chuyển ra, thường có những thanh gần với thanh cội rễ.

Như ba thanh ngang, sắc, hỏi biến chuyển qua lại với nhau. Ví dụ: chưạ..chửa; miếng…miểng; cảnh…kiếng; chẳng…chăng; thể…thế

Còn ba thanh huyền, nặng, ngã, biến chuyển qua lại với nhaụ Ví dụ: rồị..rỗi, chậm…chẫm; cữụ..cậu; lỡ … lợ; cũng….cùng.

Nếu đảo ngược tính cách này, chúng ta có thể nêu được cái thông lệ thực tiễn để tìm tiếng nào có thanh ngã

Tiếng có thanh ngã là những tiếng do tiếng thanh ngã, nặng, huyền biến chuyển ra

Ngoài ra còn những tiếng Hán Việt mà cách phát thanh theo những định luật phiền tạp, và sự áp dụng các định luật ấy chưa chắc gì đơn giản hơn là theo phương pháp tự nhiên là học ngay cho thuộc lòng. Lại các định luật này có rất nhiều ngoại lệ, mà nhớ cho được và cho đủ, cũng cần phải học thuộc lòng. Vậy thì, làm thế nào, vẫn khó tìm một phương pháp, duy lý dễ dàng, cho vừa tầm thực dụng của bình dân.

Tốt hơn là dùng phương pháp tự nhiên, đã dễ dàng, còn đem lại nhiều thành tích tốt đẹp.

Tuy vậy, những định luật kể trên vẫn có giá trị là những kim chỉ nam cho những nhà khảo cứu, để tìm tòi chính tả và điển chế tiếng Việt. Giá trị của nó là giá trị của một phương pháp bác học, và chỉ có giá trị ấy trong địa hạt của khảo cứu. Cố đem ra ngoài địa hạt ấy và biên thành những thông lệ thực tiễn, chưa ắt là hạp với kinh nghiệm của khoa sư phạm.

Trái lại, nếu ta đã dùng phương pháp tự nhiên mà học thuộc lòng rồi, lại áp dụng thêm phương pháp bác học để khảo chính và củng cố trong trí nhớ những điều đã học được, thì là một việc thêm hay.

Đặc sắc của khoa học không phải là dừng nơi một phát kiến nào, mà ở nơi sự tìm tòi và phát kiếm thêm mãi. Vấn đề hỏi ngã không phải ở trọn trong luật Nguyễn Đình và luật tứ thinh.

Đứng vào một sở cậy khác, rọi một nhấn quang khác, chắc chắn sẽ tìm thấy việc khác có thể giúp cho ta hiểu rõ thêm vấn đề.

Như có người (Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Tuân, Thế Lữ…và chúng tôi) nghĩ rằng tiếng Việt nam là một tiếng “nhạc ý” (nghĩa là dùng âm thanh cao, thấp, dài, ngắn mà diễn ý), khác hơn tiếng Tàu là một tiếng “hội ý” (nghĩa là dùng nét vẽ mà tượng ý). Thế thì, hỏi hay ngã, tất phải có quan hệ với ý của tiếng dùng. Nhắc đến giả thuyết này, chúng tôi chỉ có ý mách rằng có thể khảo cứu và suy luận thêm về vấn đề hỏi ngã, chớ chưa định ý lập một cái luật nào mới.

Độc giả nên nghiên cứu bằng thuật dùng thẻ (fiche). Thẻ ấy là những mảnh giấy rời nhỏ. Trên mỗi thẻ, ta nêu to một tiếng dấu ngã, kế đến những điều gì mà ta cần chép để nhớ (nghĩa tiếng, gốc tiếng, luật về ngữ âm học) và những nhận xét hay giả thuyết riêng của ta. Khi có đủ bộ rồi, ta chịu khó quy nạp những nhận xét, biết đâu ta chẳng tìm được cái gì hay đẹp về vấn đề?

Hồ Tường (Paris, đầu mùa hè 1950)http://vietsciences.free.fr/

No Comments